CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận quản lý rừng bền vững 1. Quản lý rừng bền vững Tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Tuy nhiên, do những tác động của con người như khai thác lâm sản quá mức, phá rừng lấy đất trồng trọt, đất chăn nuôi, chuyển đổi mục đích sử dụng, xây dựng các khu kinh tế mới, khu công nghiệp, mở rộng các điểm dân cư… đã làm cho diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp.
Thực tế cho thấy, tỷ lệ độ che phủ của rừng giảm đi một cách nhanh chóng trong những năm gần đây trên toàn cầu. Những năm đầu của thế kỷ 20, diện tích rừng trên thế giới vẫn còn khoảng 60 - 65% và theo số liệu của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), nhưng tính đến năm 1995 thì tổng diện tích rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn khoảng 3. Nói cách khác, chỉ gần 1 thế kỷ trở lại đây, diện tích rừng tự nhiên đã giảm gần một nửa, mỗi năm giảm đi trung bình khoảng 20 triệu ha trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 1945 độ che phủ của rừng là 43,3%.
Tuy nhiên tỷ lệ này đến nay chỉ còn 39,7% (theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2011) [3], rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Rừng tự nhiên không những bị thu hẹp về diện tích mà còn suy giảm về chất lượng. Nhiều loài động, thực vật bị khai thác cạn kiệt, các loài cho sản phẩm có giá trị cao về thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu cho công nghiệp, thủ công mỹ nghệ… ngày càng trở nên khan hiếm và thậm chí có nguy cơ tuyệt chủng. Trước tình hình đó, một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải quản lý, bảo vệ rừng như thế nào để ngăn chặn được tình trạng mất rừng mà trong đó việc khai thác những giá trị kinh tế của rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chất lượng của nó, duy trì và phát huy những chức năng sinh thái, bảo vệ sự tồn tại lâu bền giữa con người và thiên nhiên.
Quản lý rừng bền vững, theo Tổ chức Gỗ nhiệt đới (ITTO) thì "Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định, nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng như mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường vật lý và xã hội". Theo chương trình Helsinki thì "Quản lý rừng bền vững là quản lý rừng và đất rừng một Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác". Trên quan điểm kinh tế sinh thái, hiệu quả sinh thái môi trường của rừng hoàn toàn có thể quy đổi được thành những giá trị kinh tế. Vì thực chất, việc nâng cao giá trị sinh thái môi trường của rừng sẽ góp phần làm giảm bớt những chi phí cần thiết để cải tạo và ổn định môi trường vật chất cho sự tồn tại của con người và thiên nhiên, duy trì và cải thiện năng suất của các hệ sinh thái cũng như nhiều hoạt động phát triển kinh tế - xã hội khác.
Như vậy, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng thực chất là một hoạt động nhằm góp phần vào sử dụng bền vững, sử dụng tối ưu không gian sống của mỗi địa phương, mỗi quốc gia và toàn thế giới. Với ý nghĩa kinh tế và sinh thái môi trường cực kỳ quan trọng đó, việc nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất của hoạt động quản lý tài nguyên rừng bền vững, đây một giải pháp lớn cho sự tồn tại lâu bền giữa con người và thiên nhiên trên trái đất. Có thể nói quản lý rừng bền vững, theo quan điểm trong thời gian gần đây áp dụng cho rừng đặc dụng và rừng phòng hộ là dựa trên quan điểm chia sẽ lợi ích và đông quản lý [11], [20]. Các phương pháp tiếp cận trong quản lý rừng bền vững Rừng là một dạng tài nguyên thiên nhiên, phương pháp tiếp cận trong quản lý tài nguyên rừng tương tự phương pháp tiếp cận quản lý một số tài nguyên thiên nhiên khác.
Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên là một khái niệm tương đối rộng và đa lĩnh vực. Trong lĩnh vực lâm nghiệp thì quản lý tài nguyên thiên nhiên tập trung vào 3 hợp phần quan trọng là quản lý tài nguyên rừng, quản lý tài nguyên nước và quản lý tài nguyên đất lâm nghiệp; trong đó quản lý rừng là một hợp phần quan trọng. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, sau đây là một số cách tiếp cận chính thường được sử dụng: - Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (Community based natural resources management). Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện nhằm xác định những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của những cộng đồng địa phương.
- Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên (Co-management of Natural Resources). Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là một cách tiếp cận đa nguyên để quản lý tài nguyên thiên nhiên bằng cách kết hợp nhiều đối tác với nhiều vai trò, với mục đích cuối cùng là bảo vệ môi trường, quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và phân chia đồng đều những quyền lợi và trách nhiệm liên quan đến tài nguyên; - Quản lý mang tính thích nghi (Adaptation management). Quản lý mang tính thích nghi là một cách quản lý tài nguyên thiên nhiên áp dụng cho việc hoạch định chính sách nhà nước, là một bộ phận của một quá trình đang tiếp diễn. Xem xét những kết quả hoạt động sẽ cung cấp thông tin nhằm chỉ ra những nhu cầu thay đổi quá trình hoạt động đó, trong đó những kết quả khoa học và nhu cầu xã hội có thể chỉ ra nhu cầu để thích ứng hình thức quản lý tài nguyên đến thông tin mới.
- Quản lý bền vững dựa trên Hệ sinh thái (Ecosystem Management). Quản lý hệ sinh thái (HST) là hình thức quản lý liên kết các kiến thức khoa học về mối quan hệ sinh thái trong một khuôn khổ giá trị và xã hội - chính trị phức tạp nhằm hướng tới mục tiêu chung bảo vệ sự toàn vẹn của hệ sinh thái trong thời gian dài (Theo Grumbine,1994). Quản lý rừng nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các loài gen quí hiếm theo tiếp cận hệ sinh thái là rất quan trọng cho sự bền vững và phù hợp với nhân văn của các cộng đồng. Rừng và đất rừng - tài nguyên vô giá của loài người ngày càng bị giảm sút nghiêm trọng.
Theo số liệu của FAO đến năm 1991 tổng diện tích rừng còn khoảng 3.717 triệu ha, trong đó 1.867 triệu ha rừng Bắc cực và Địa Trung Hải ổn định hoặc tăng lên một ít, còn 1.850 triệu ha rừng nhiệt đới lại bị giảm bình quân 1% năm. Từ năm 1981 - 1991 tỷ lệ rừng bị giảm đã tăng 80% so với thời kỳ 10 năm trước. Trước tình hình đó Hội nghị Lâm nghiệp thế giới lần thứ X tại Paris tháng 9/1991 đã vạch ra một chiến lược toàn cầu về bảo vệ rừng. Ở Ấn Độ, chính phủ đã tiến hành thiết lập các “vùng rừng bảo vệ của người dân” và phát triển phương thức “quản lý rừng có sự tham gia”.
Các mô hình này được nhân rộng nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. Ở Nepal, bên cạnh việc ban hành các chính sách và luật lệ để quản lý nguồn lâm sản ngoài gỗ chính phủ đã khởi xướng hỗ trợ về mặt thể chế. Trong đó, đáng quan tâm nhất là việc thiết lập “Hiệp hội những người sử dụng rừng cộng đồng” (FECOFUN) do Bộ bảo tồn Đất và Rừng khởi xướng. Hiệp hội này bao gồm các “nhóm những người sử dụng rừng” là những người địa phương ở trên các vùng lãnh thổ khác nhau của Nê Pan được thiết lập để quản lý các vùng rừng cộng đồng.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành rất nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn tài nguyên rừng. Trong đó được chú trọng nhất là giao đất giao rừng cho cá nhân, hộ gia đình hoặc cộng đồng quản lý bảo vệ và phát triển. Cơ sở thực tiễn 1. Hình thành các chính sách mới Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế chính sách, đầu tư nhiều công trình nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.
Hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng được nâng cao, đặc biệt từ khi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ra đời (năm 1991) và sửa đổi năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/4/2005), hàng loạt các văn bản pháp quy đã được ban hành như: + Nghị định số 02/1994/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. + Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. + Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/1/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng. + Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
+ Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. + Quyết định số 264/CT ngày 22/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển rừng.