Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh Thái Nguyên. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh Thái Nguyên.
c 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM nêu rõ: NHTM là tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Khoản 1, Điều 5).
Theo Luật Ngân hàng Nhà nƣớc thì hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Nhƣ vậy, có thể định nghĩa Ngân hàng thƣơng mại: “Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội” (Phan Thị Cúc, 2010, tr. Có thể nói NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ đƣợc huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thƣơng mại đƣợc thể hiện qua các điểm sau: - Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh tế. - Ngân hàng thƣơng mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại thực hiện các chức năng chủ yếu sau: * Chức năng làm trung gian tín dụng Với vai trò của mình, NHTM đứng ra làm trung gian tập trung huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể có vốn chƣa sử dụng đến để cho các chủ thể thiếu vốn vay. Nhƣ vậy, NHTM vừa là ngƣời nhận tín dụng (ngƣời đi vay) và vừa là ngƣời cấp tín dụng (ngƣời cho vay).
c 5 Chức năng trung gian tín dụng của NHTM có tác dụng rất lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, nó làm cho nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi đƣợc sử dụng triệt để, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn của toàn xã hội, quá trình tái sản xuất nhờ vậy đƣợc tiến hành liên tục, khẩn trƣơng và mở rộng. * Chức năng làm trung gian thanh toán Thực hiện chức năng này, NHTM thay mặt cho khách hàng tiến hành các nghiệp vụ có tính chất kỹ thuật liên quan đến sự vận động của vốn tiền tệ của khách hàng. Nghiệp vụ này bao gồm: Bảo quản tiền tệ, tiến hành thanh toán theo ủy nhiệm của khách hàng, nhập tiền vào tài khoản, theo dõi sổ sách… Nghĩa là ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng, giúp họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau. Công việc này của ngân hàng ngày càng mở rộng về quy mô và phạm vi.
Ngày nay, NHTM thực hiện đại bộ phận các khoản chi trả về hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp và cả một bộ phận chi trả của cá nhân. Chức năng này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với nhau, làm giảm đi đáng kể những chi phí có liên quan đến lƣu thông tiền mặt đối với từng doanh nghiệp cũng nhƣ đối với toàn xã hội. * Chức năng "tạo tiền" Hai chức năng làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán là tiền đề phát sinh chức năng "tạo tiền" của NHTM. Quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM là quá trình mở rộng nhiều lần tiền gửi thông qua kỳ hạn.
Quá trình này đƣợc thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống ngân hàng. Nếu chỉ xét thuần tuý khả năng tạo tiền thì với một khoản dự trữ mới đƣợc cung cấp thêm, toàn bộ hệ thống NHTM có thể tạo ra đƣợc một lƣợng tiền gửi qua ngân hàng gấp nhiều lần dự trữ ban đầu mà họ nhận đƣợc. Lƣợng tiền này tỷ lệ nghịch với tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ thuận với lƣợng dự trữ mới đƣợc cung cấp ban đầu. Tuy nhiên, việc mở rộng tiền gửi nhƣ trên mới chỉ là khả năng mà thôi.
Mức độ mở rộng tiền gửi của NHTM lên bao nhiêu lần còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhƣ: Tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng, mức độ sử dụng số vốn khả dụng của ngân hàng để cho vay,… Chức năng này đã tạo thêm nguồn vốn cho các NHTM để mở rộng khả năng cho vay. Các chức năng của NHTM có mối quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, trong đó chức năng tín dụng là chức năng cơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác. Đồng thời thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và "tạo tiền" góp phần mở rộng hoạt động của chức năng trung gian tín dụng. Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại Nghiệp vụ tài sản nợ (Nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của NHTM): Đây là nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của NHTM.
Nguồn vốn của NHTM gồm có: * Vốn tự có và coi nhƣ tự có gồm: - Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập ngân hàng, nó đƣợc hình thành tuỳ theo tính chất sở hữu của các ngân hàng. - Quỹ dự trữ: Gồm hai loại là Quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và Quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. - Vốn coi nhƣ tự có gồm: Lợi nhuận chƣa chia hoặc các quỹ chƣa sử dụng nhƣ quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng, quỹ khen thƣởng, quỹ phúc lợi, khấu hao tài sản cố định. * Vốn huy động: Ngân hàng huy động tiền gửi với các hình thức: - Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi mà ngƣời gửi có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào.
Bộ phận tiền gửi này bao gồm: tiền gửi thanh toán đƣợc bảo quản trên hai tài khoản là tài khoản séc và tài khoản vãng lai. Ngoài ra còn có tiền gửi không kỳ hạn để đảm bảo an toàn tài sản của khách hàng và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của các tầng lớp dân cƣ với tính chất là các khoản tiền để dành. - Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có quy định cụ thể về thời gian rút tiền của khách hàng. Cùng với việc huy động tiền gửi, ngân hàng còn huy động vốn bằng các hình thức khác nhƣ: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành trái phiếu.
- Vốn đi vay: Gồm có: + Vay NHTM và các tổ chức tín dụng trên thị trƣờng liên ngân hàng. + Vay ngân hàng trung ƣơng mà cụ thể là xin tái cấp vốn tại ngân hàng trung ƣơng. + Vay nƣớc ngoài và các tổ chức tín dụng khác. * Các nguồn vốn khác: Vốn thanh toán và vốn phát sinh từ các nghiệp vụ đại lý.
Trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM, vốn tự có và coi nhƣ tự có chiếm tỷ trọng nhỏ nhƣng mang tính chất ổn định và là cơ sở cho việc thu hút các nguồn vốn khác. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhƣng thƣờng xuyên biến động, nhất là bộ phận tiền gửi không kỳ hạn, nhƣng nó lại là bộ phận vốn quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, do đó, ngân hàng phải thƣờng xuyên tìm mọi biện pháp để mở rộng phần vốn này. c 7 Nghiệp vụ tài sản có (Nghiệp vụ sử dụng vốn của NHTM): Trên cơ sở hình thành các nguồn vốn, NHTM sử dụng vốn vào các nghiệp vụ sau: * Nghiệp vụ ngân quỹ - Duy trì một mức tiền mặt tại quỹ để đáp ứng yêu cầu chi trả tiền mặt thƣờng xuyên cho khách hàng. - Tiền gửi của NHTM tại ngân hàng trung ƣơng (NHTW) gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán để phục vụ các khoản thanh toán giữa các ngân hàng qua vai trò trung gian thanh toán của NHTM.
- Tiền gửi tại các NHTM để có thể thực hiện nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền cho khách hàng. * Nghiệp vụ cho vay của NHTM - Nghiệp vụ chiết khấu: Thực chất đây là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn nhƣng khoản cho vay mang tính chất đặc biệt vì ngƣời vay chuyển quyền đòi nợ trên thƣơng phiếu sang ngân hàng. - Cho vay ứng trƣớc: Thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng trong đó khách hàng đƣợc sử dụng tiền vay trong một thời hạn nhất định. - Cho vƣợt chi trên tài khoản vãng lai: là hình thức cấp tín dụng đặc biệt, trong đó khách hàng đƣợc phép dƣ nợ trên tài khoản vãng lai theo một hạn mức tín dụng trên cơ sở hợp đồng tín dụng.
- Tín dụng ngân quỹ. - Tín dụng bằng chữ ký. - Tín dụng thuê mua. Trong các nghiệp vụ tài sản có thì nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu đối với NHTM nhƣng cũng là nghiệp vụ có khả năng gặp rủi ro nên ngân hàng phải hết sức chú ý khi thực hiện nghiệp vụ này.
Nghiệp vụ ngân quỹ không có khả năng sinh lời nhƣng lại đảm bảo duy trì khả năng thanh toán. * Nghiệp vụ đầu tƣ - Đầu tƣ theo dự án ngân hàng. - Đầu tƣ vào lĩnh vực chứng khoán: chứng khoán nhà nƣớc, cổ phiếu, trái phiếu công ty. Các nghiệp vụ khác của NHTM (Nghiệp vụ trung gian): * Nghiệp vụ thu chi chuyển tiền cho khách hàng.
* Nghiệp vụ đại lý về chứng khoán: phát hành, mua bán, bảo quản chứng khoán cho khách hàng. c 8 * Nghiệp vụ mua bán, bảo quản vàng bạc đá quý và ngoại tệ. * Nghiệp vụ ủy thác của khách hàng quản lý tài sản theo thƣ, theo hợp đồng. * Nghiệp vụ tƣ vấn về đầu tƣ.
* Nghiệp vụ thanh lý tài sản khi doanh nghiệp giải thể, phá sản.