CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu Quảng Trị là một tỉnh thuộc vùng duyên hải miền Trung Việt Nam với địa hình đa dạng: có đồi núi, đồng bằng, cồn cát ven biển và hải đảo. Trên chiều dài 75 km bờ biển có hai cửa biển là Cửa Việt, Cửa Tùng và huyện đảo Cồn Cỏ cách bờ gần 30 km.
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng. Nhiệt độ trung bình trong năm dao động từ 200C – 250C. Nhiệt độ cao nhất trong năm vào các tháng nóng, ở vùng đồng bằng khảng 400C và ở vùng núi thấp từ 340C - 350C. Lượng mưa trung bình trong năm dao động từ 2.700 mm, độ ẩm tương đối trung bình 70 - 80%.
Từ những điều kiện về tự nhiên trên có thể cho ta thấy Quảng Trị là một tỉnh đa phần diện tích chủ yếu là núi đồi có điều kiện để phát triển các loại hình cây công nghiệp lâu năm, trồng rừng nguyên, nhiên liệu phục vụ công nghiệp. Những năm qua, cùng với việc phủ xanh đất trống đồi trọc bằng các loại cây lâm nghiệp như: thông ba lá, keo, bạch đàn… cây Bời lời cũng được người dân ở đây đưa vào trồng tại các rẫy, vườn hộ mà chưa nghĩ đến giá trị kinh tế trên thị trường, việc trồng chăm sóc chỉ mang tính tự phát, chưa có những định hướng cụ thể. Với đặc thù dễ trồng, phù hợp với mọi điều kiện khí hậu và vùng đất, cây Bời lời đỏ đang thu hút nhiều nông dân huyện Hướng Hóa, Đakrông, tỉnh Quảng Trị trồng mới. Cùng với việc phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn, cải tạo đất… cây Bời lời đang khẳng định giá trị kinh tế cao so với các loại cây trồng khác nhờ ổn định đầu ra.
Hiện nay giống cây Bời lời đỏ đang thực sự nóng sốt từng ngày trên địa bàn các Tây Nguyên cũng như Quảng Trị, bởi với đặc tính dễ trồng, không cần đầu tư phân bón nhiều như các loại cây trồng khác, lại phù hợp với tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, người trồng Bời lời không cần tìm nơi tiêu thụ mà tư thương các nơi về tìm mua và đặt hàng nhưng vẫn không có Bời lời để bán. Trước những thuận lợi về giá và ổn định đầu ra trên thị trường hiện nay, thời gian tới một số tỉnh sẽ tiếp tục đầu tư cho người dân mở rộng diện tích cây Bời lời để vừa hạn chế diện tích trồng mì, vừa phủ xanh đất trống đồi trọc, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt so với nhiều loại cây trồng khác. Có thể nói, trong thời điểm hiện nay cây Bời lời đỏ không chỉ có giá trị kinh tế ổn định mà còn giải quyết được việc làm cho người dân.
Bời lời đỏ đang trở thành một loại cây “xóa đói giảm nghèo” trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ sở khoa học của nhân giống từ hạt Khái niệm về sự nảy mầm: “Sự nảy mầm là hoạt động tiếp tục sinh trưởng của phôi khi vỏ hạt thoái hoá và cây con nhú lên”. Đây là định nghĩa tiếp tục sinh trưởng Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 của hạt đã ngủ nghỉ sau khi hình thành và phát triển. Trong quá trình ngủ nghỉ của hạt không hoạt động trao đổi chất và năng lượng hoặc hoạt động này diễn ra rất thấp (ASOA, 1981).
Các yếu tố bên ngoài cần cho sự nẩy mầm của hạt chủ yếu là nước và nhiệt độ. Hạt muốn nẩy mầm trước hết phải hút nước, đồng thời có nhiệt độ thích hợp, chủ yếu là không được lạnh giá. Sau khi hút đủ nước và có nhiệt độ thích hợp, các tế bào chồi mầm và rễ mầm bắt đầu hoạt động và phát triển. Như vậy việc ngâm ủ hạt giống ở nhiệt độ 400C – 500C là động tác kích thích chồi mầm, rễ mầm “thức giấc” hay nói theo thuật ngữ khoa học là để phá vỡ tính miên trạng của hạt giống.
Ánh sáng không cần thiết cho sự nẩy mầm của hạt, nhưng khi cây đã có lá thật thì cần ánh sáng để quang hợp. Sau khi ngâm ủ hạt giống tức là ta đã cung cấp đủ nước và nhiệt độ cho chúng, các phản ứng hóa học trong hạt được tiến hành, từ đó sinh ra các hormone kích thích các tế bào ở chồi và rễ mầm phát triển. Các hornmone là yếu tố bên trong, bao gồm chất Auxin, Gibberellin, Cytokinin. Để giúp hạt mau nảy mầm, người ta thường ngâm hạt giống vào trong dung dịch các chất này để bổ sung thêm chất kích thích cho hạt (Mai Văn Quyền, 2005).
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhân giống từ hạt Nhân tố ngoại sinh Nhân tố môi trường bên ngoài gồm nhiều yếu tố khác nhau có ảnh hưởng không hề nhỏ đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con. Bởi vậy cần tạo điều kiện thuận lợi, thích hợp nhất để cây con có thể phát triển tốt. - Với lượng nước tưới: hàng ngày tưới nước đủ ẩm trên luống gieo cây và cây con với liều lượng 4-5 lít/m2. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể đến hạt giống: Nhiệt độ thích hợp cho nhiều loài cây từ 250C- 300C.
Thường các loài cây nhiệt đới yêu cầu nhiệt độ không khí cao hơn các loài cây ôn đới. Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể: Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể giữ cho hạt giống và chồi cây không bị khô héo và cung cấp nước cho cây con quang hợp trong quá trình ra rễ. Và đặc biệt riêng đối với độ ẩm giá thể: Nếu độ ẩm giá thể thấp sẽ làm khô héo chồi cây, nếu quá cao sẽ làm cho hạt giống phía thối rữa. Nên sử dụng hệ thống phun sương mù để duy trì độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Ánh sáng: Là nhân tố không thể thiếu được khi gieo hạt, ánh sáng tán xạ khoảng 40 -50% của ánh sáng toàn phần sẽ thích hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của hạt giống khi nảy mầm. Các loài cây khác nhau yêu cầu ánh sáng khác nhau: Những cây ưa sáng yêu cầu ánh sáng cao hơn những loài cây chịu bóng (Mai Quang Trường, Lương Thị Anh, 2007). Nhân tố nội sinh - Thành phần các chất có trong hạt Sự hấp thụ nước là một quá trình sinh lý không phụ thuộc vào năng lượng trao đổi chất mà liên quan đến đặc điểm của tính keo có mặt trong mô hạt. Điều này đã được chứng minh bằng sự hấp thụ nước như nhau của cả hạt sống và hạt chết.
Thành phần cơ bản tạo ra sự hút nước của hạt là protein. Protein hiện mang âm và dương có tính hút cao các cực phân tử nước. Sự hút nước khác nhau do lượng chứa protein trong hạt so với tinh bột được chứng minh bởi hai loại hạt đậu tương và ngô. Chất khác trong hạt đóng góp vào khả năng nước là chất nhầy của nhiều loại hạt, khi cellulose và pectins cố định trên tế bào.
Tinh bột chỉ có ảnh hưởng nhỏ đến sự hút nước, ngay cả khi số lượng lớn, bởi vì nó có cấu trúc vật không màng nên chỉ hút nước ở độ pH thấp hoặc sau khi xử lý nhiệt độ cao mà điều đó không xảy ra trong tự nhiên (Dương Thị Vĩnh Thạch, 2013). - Khả năng thấm của vỏ hạt Nước đi vào hạt bị ảnh hưởng rất lớn của vỏ hạt. Cấu trúc vỏ hạt sự thấm nước tự nhiên rất lớn ở lỗ noãn nơi vỏ hạt khá mỏng. Rốn của nhiều loại hạt cũng cho phép nước đi vào dễ dàng.
Hạt của nhiều loài có mô đặc biệt ngăn cản nước tự nhiên vào hạt, nước đi đến phần vỏ cứng gây ngủ cho hạt, một số nước vào hạt có đóng góp vào sự thấm nước của vỏ hạt (Dương Thị Vĩnh Thạch, 2013). Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Bời lời đỏ là một cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao nên được rất nhiều các nước trên thế giới nghiên cứu và đưa vào trồng để phát triển kinh tế. Bời lời đỏ phân bố ở các nước như Ấn Độ, Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam), Bangladesh, Bhutan, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, philippines, Australia.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Theo tạp chí quốc tế về Công nghệ sinh học và sinh học phân tử nghiên cứu Bời lời đỏ (Lour) C.B Rob (Tiếng Hin-du: Maida lakri) là một cây thuốc có giá trị dược phẩm rất lớn. Loài này cực kì nguy cấp do tình trạng khai thác bừa bãi để dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, nó được sử dụng để sản xuất các loại thuốc giảm đau, có tác dụng hiệu quả trong điều tri tiêu chảy và bệnh lỵ., Bipasha, 2010) Tại Ấn Độ các nhà khoa học Radhkrishman, Ramasani A. (1989) đã tách được từ vỏ cây Bời lời đỏ chất Sufoof- E musummin dùng làm dược liệu trong y học. Tại Indonexia, các tác giả Rizan Helmi và Zamri Adel (1989) bằng phương pháp quang phổ đã chiết xuất từ cành rễ và vỏ cây Bời lời các chất như 2,9 dyhydroxy, 1,10 dimethoxyaporhyne, 6 methonyphenan threne 9% dùng trong y học.
Tại hội nghị quốc tế về y học dân tộc và những cây thuốc hợp tại Indonexia năm 1990 đã xác nhận cây Bời lời đỏ có thể chiết xuất một số hóa chất dùng trong y dược. Các thông tin trên cho phép khẳng định một cách chắc chắn về giá trị kinh tế của Bời lời đỏ, nhất là trong lĩnh vực y dược (Rizan Helmi, Zamri Adel, 1989). Cây Bời lời đỏ là loài cây đa mục đích và được người bản địa nhiều nơi trên thế giới sử dụng thường xuyên như 1 loại dược liệu để điều trị trong đời sống hàng ngày (Arya, 2002; Majumdar, 2006). Tuy nhiên, những nghiên cứu về loài cây này trên thế giới còn hạn chế.
Theo nghiên cứu của Rabena năm 2007 thì vỏ Bời lời chứa tinh dầu thơm, được chiết suất dùng trong y học, làm hương thơm, nguyên liệu và làm keo dán công nghiệp hoặc sơn, ngoài ra còn được dùng làm nhang đốt trong tín ngưỡng tôn giáo của người dân. Điều này được chứng minh rõ hơn tại một tài liệu dùng để tập huấn công tác nhân giống các loài cây dược liệu của của Somashekhar và cộng sự (2002), theo tài liệu này đã tổng kết, mô tả thực vật và phân loại những bộ phận dùng để làm thuốc và sản xuất biệt dược của những loài cây tại Bangalore.