mở đầu cho những phát kiến về các chất kết dính khác và bê tông 2N. - Pa se, Hình 1.1: Bê tông La Mã Đến thời kỹ tư bản chủ nghĩa, do nhu cầu xây dựng công nghiệp phát triển „ việc phát triển giao thông và các yêu cầu quân sự đồi hỏi phải có các vật liệu mới có khả năng chịu lực cao, do đó sắt thép, bê tông, bê tông cốt thép, bê tông, thép ứng suất trước đã được sử dung v.v cuối thé ky 19, đầu thé ky 20, việc sản xuất các loại vật liệu đá nhân tạo như gạch silicat, sản phẩm fibro xi măng, bê tông xi lò cao, các vật liệu cách nhiệt vả ngăn nước được phát triển. Ngày nay cùng với sự phat triển mạnh mẽ của khoa học vả kỹ thuật, kỹ thuật sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng trên thé giới đã đạt trình đọ khá cao. Người ta đã và đang nghiên cứu sử dụng những vật liệu hiện đại vừa nhẹ, vừa bền như chất déo để thay thé thép và bê tông cốt thép hoặc để làm chất gắn kết các cau kiện thay cho bulong, đỉnh tán.
Ngoài ra, từ chat dẻo người ta chế tạo ra các loại sơn, nhũ quét ngoài mặt công trình, dé tạo một lớp mang chống thắm. bên vũng và chống xâm thực cho công trình ở trong môi trường nước có tính chất xâm thực, Van đề sản xuất cấu kiện đúc. in trong nhà máy với trình độ cơ khí hóa và tự động hoá cao đang đặc biệt được chú trọng nhằm nâng cao năng xuất lao động và phẩm chất vật liệu, trên cơ sở đó mà hạ giá thành sản phẩm. nghệ tiên tién được áp dụng như nung gạch bằng tuynen, nung xi măng bằng dau ma dút hoặc khí than; Các nhà máy xi mang cỡ lớn có công xuất tới 2.4 triệu tắn/ năm, sản xuất các cấu kiện bê tông cốt thép ứng suất trước cỡ lớn, dùng.
máy chấn động tần số cao đẻ tạo hình, v. đã được xây dựng. Việc sản xuất các loại vật liệu mới như các loại hợp kim nhẹ, cường độ cao, và bền vững lâu dai; các sản phẩm vô cơ như sợi thủy tinh, sợi bông đá, bê tông cốt tre, cốt sợi thủy tỉnh, các loại vật liệu đá nhân tạo cỡ lớn, các loại xỉ mang đặc biệt và các loại vật liệu nhân tạo cỡ lớn, các loại xi măng đặc biệt và các loại vật liệu chuyên dụng khác được đặc biệt chú trọng. Người ta còn phát minh ra các máy móc kiểm tra tính chất các vật liệu xây dựng và hoàn chỉnh các phương pháp nghiên cứu thí nghiệm để đánh giá phẩm chất các vật liệu, Hàng loạt các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm quốc gia và quốc tế ra đời dé làm cơ sở pháp lý cho việc sản xuất sử dụng và kiểm tra chat lượng vật liệu xây dựng.
Xu hướng chung của việc phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng hiện nay là tăng nhanh sản lượng và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và giảm nhẹ cường độ lao động cho người sản xuất. Các biện pháp cơ bản sau đây thường được chú trong: ~_ _. Cơ khí hóa và tự động hóa quả trình công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng và sản phẩm. Kết hợp chặt chẽ với khâuthiết ké để tiêu chuẩn hóa.
thước, quy cách, phẩm chất các loại vật iệu và sản phẩm. Ké hoạch héa các khâu khai thác, chế biển, lưu thông phân phối và sử dụng vật liêu xây dựng. Diy mạnh công tác nghiên cứu khoa học vật liêu xây dựng cho phủ hợp với tải nguyên , khí hậu mỗi địa phương, đồng thời nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật của các nghành khác vào công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. = Công xưởng hóa việc sản xuất cấu kiện và tích cực thi công lắp ghép.
Kết hợp chat che với các khâu thiết kế và thi công để định ra chế độ sử dụng tiết kiệm các loại vật liệu. ~ Tan dụng các nguồn nguyên liệu địa phương và các nguồn phế liệu công nghiệp dé sản xuất vật liệu xây dựng. G Việt Nam từ xưa đã có những công trình bằng gỗ, gach đá xây dựng rất công phu, vi dụ công trình đá thành nhà Hồ (Thanh Hóa), công trình đất Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội). Nhung trong suốt thời kỳ phong kid thực dân thống trị, kỹ thu về vật liệu xây dựng không được đúc kết, đề cao và phát triển, sau chiến thắng thực dân Pháp (1954) và nhất là kể tử khi ngành xây dựng Việt Nam ra đời (29.1958) đến nay ngành công nghiệp vật liệu xây dựng đã phát triển nhanh chóng.
Trong 45 năm, từ những vật liệu xây đựng truyền thống như gach, ngói, đá, cát, xi măng, ngày nay ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đã bao gồm "hàng trim chủng loại vật liệu khác nhau, từ vật liệu thông dụng nhất đến vật liệu cao cấp với chất lượng tốt, có đủ các mẫu mã, kí thước, màu sắc đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước và hướng ra xuất khẩu Nhờ có đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của Dang, ngành vật liệu xây dựng. đã đi trước một bước, phát huy tiém năng, nội lực sử dung nguồn tải nguyên phong phú, đa dạng với sức lao động đồi dào, hợp tác, liên doanh, liên kết trong và ngoài nước, ứng dung công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại của thé giới vào hoàn cảnh cụ thé của nước ta, đầu tư, liên doanh với nước ngoài xây dựng nhiều nhà máy mới trên khắp ba miễn như xi ing Bút Son (1,4 t tắn/năm), xi măng Chinfon - Hải Phòng (1.4 triệu tén/ndm), xi ming Sao Mai (1,76 triệu tắn/năm), xi mang Nghỉ Sơn (2,27 triệu tắn/năm). Về gốm sứ xây dựng có nha máy ceramic Hữu Hưng, Thanh Thanh, Thạch Bản, Việt Tri, Đà Nẵng, Đồng Tâm, Taicera Shilar v. Năm 1992 chúng ta mới sản xuất được 160.000 m2 loại Ceramic trắng men ốp tường 100 x 100 mm, thì năm 2002 đã cung cắp cho thị trường hơn 15 triệu m2 loại: 300x300, 400x400, 500x500 mm.
Một thành tựu quan trọng của ngành gốm sứ xây dựng là sự phát triển đột biến của sứ vệ sinh. Hi à máy sứ Thiên Thanh và Thanh Trì đã nghiên cứu sản xuất sứ từ nguyên liệu trong nước, tự vay vốn đầu tư trang bị đây chuyển công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại đưa sản lượng hai nha máy lên 800000 sản phẩm/năm. Nếu kể cả sản lượng của các liên doanh thì năm 2002 đã sản xuất được 1405 triệu sản phẩm sứ vệ sinh có chất lượng cao. 'Về kính xây dựng có nhà máy kính Đáp Cầu, với các sản phẩm kinh phẳng diy 2 -5 mm, kính phản quang, kính màu, kính an toàn, gương soi đã đạt sản lượng 7,2 triệu m2 trong năm 2002.
Ngoài các loại vật liệu cơ bản trên, các sản phẩm vật liệu trang trí hoàn thiện như đá ốp lát thiên nhiên sản xuất từ đá cảm thạch, đá hoa cương, sơn silicat, vật liệu chống thắm, vật liệu làm trin, vật liệu lợp đã được phát triển với tốc độ cao, chất lượng ngày cảng được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh các nhà máy vật liệu xây dựng được đầu tư với công nghệ: tiên tiến, thiết bị hiện đại thì cũng còn nhiều nha máy vẫn phải duy trì công nghệ lạc hậu, thiết bị quá cũ, chất lượng sản phẩm không én định Phương hướng phát triển ngành công nghệ vật liệu trong thời gian tới là phát huy nội lực về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, lực lượng lao động dồi đảo, tích cực huy động vốn trong dân, tăng cường hợp tác trong nước, ngoài nước, đầu tư phát triển nhiều công nghệ tiên tiến, sản xuất các mặt hàng mới thay thé hàng nhập khẩu như vật liệu cao cắp, vật liệu cách âm, cách nhiệt, vật liệu trang trí nội thất, hoàn thiện dé tạo lập một thị trường vật liệu đồng bộ phong phú, thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội với tiểm lực thị trường to lớn trong nước, đủ sức cạnh tranh, hội nhập thị trường khu vực và thể giới. 10 Mục tiêu đến năm 2010 là sản xuất 40-45 triệu tấn xi mang, 40-50 triệu m2 gạch men lát nền, ốp tường, 4-5 triệu sản phẩm sứ vệ sinh với phụ kiện đồng bộ, 80- 90 triệu m2 kính xây đựng các loại, 18 -20 tỷ viên gach, 30-35 triệu m2 tắm lợp, 35- 40 triệu mã đá xây dựng, 2 triệu m2 đá ốp lát, 50.000 tắm cách âm, cách nhiệt, bông, soi thủy tỉnh, vật liệu mới, vật liệu tổng hợp. Phân loại vật liệu xây dựng. Vit liệu xây dựng được phân theo 2 cách chính: ‘Theo bản chất ‘Theo bản chit vật liệu xây dựng được phân ra 3 loại chính sau đây: + Vật liệu vô cơ bao gồm các loại vật liệu đá thiên nhiên, các loại vật liệu nung, các chất kết dính vô cơ, bê tông, vữa và các loại vật liệu đá nhân tạo không nung khác + Vật liệu hữu cơ: bao gồm các loại vật liệu gỗ, tre, các loại nhựa bitum và gudrông, các loại chất dẻo, sơn, veeni v.
+ Vật liệu kim loại: bao gồm các loại vật liệu và sản phẩm bằng gang, thép, kim loại mau và hợp kim ‘Theo nguồn gốc + Theo nguồn gốc vật liệu xây dựng được phân ra 2 nhóm chính: vật liệu đá nhân tạo và vật liệu đá thiên nhiên. + Theo tính toán, vật liệu sử dụng trong các công trình xây dựng có tới hơn 90% là vật liệu đá nhân tạo và gần 10% là vật liệu khác. + Vật liệu đá nhân tạo là một nhóm vật liệu rất phong phú và đa dạng, chúng được phân thành 2 nhóm phụ: vật liệu đá nhân tạo không nung và vật liệu đá nhân tạo nung, + Vật liệu đá nhân tạo không nung: nhóm vật liệu mà sự rắn chắc của chúng xảy. ra ở nhiệt độ không cao lắm và sự hình thành cấu trúc là kết quả của sự biến đổi hóa học và hóa lý của chất kết dính, ở trạng thái dung dịch (phân tử, keo, long và rin, pha loãng và đậm đặc).
L liệu đá nhân tạo nung: nhóm mà sự rắn chắc của nó xảy ra chủ yếu là quá trình làm nguội dung địch nóng chảy. Dung dịch đó đóng vai trò là chất kết dính. Đối với vật liệu đá nhân tạo khi thay đổi thành phan hạt của cốt liệu, thành phan khoáng hóa của chất kết dính, các phương pháp công nghệ và các loại phụ gia đặc biệt thì có thể làm thay đổi và điều chỉnh cấu trúc cũng như tính chất của vật liệu 1. Vật liệu dùng trong bêtông Bé tông là vật liệu đá nhân tạo do hỗn hợp của các chất kết dính vô cơ hoặc hữu cơ với nước, cô liệu nhỏ, cốt liệu lớn và phụ gia( nêu có) được nhao trộn kỹ theo một ti lệ thích hợp lên chặt và rắn chắc lai tạo thành.