ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có câu thành ngữ “Rừng vàng, biển bạc” thể hiện vai trò và giá trị của các dạng tài nguyên thiên nhiên đối với môi trƣờng và sự phát triển của đất nƣớc. Trong đó, nƣớc là một dạng tài nguyên quý giá với con ngƣời và sinh vật. Theo báo cáo hiện trạng môi trƣờng quốc gia 2013 (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2013) nƣớc ta có tài nguyên nƣớc dồi dào với một mạng lƣới sông ngòi khá dày với khoảng 2.360 con sông và phân bố rải rác khắp lãnh thổ. Tuy nhiên, Việt Nam đang có nguy cơ đối diện với khủng hoảng nguồn nƣớc trong một tƣơng lai gần.
Khoảng 60% tổng trữ lƣợng nguồn nƣớc có nguồn gốc từ nƣớc ngoài, bên cạnh đó vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng và nhu cầu sử dụng nƣớc ngày một tăng đang là những mối đe dọa lớn tới nguồn nƣớc của quốc gia. Việc tìm ra các giải pháp quản lý tổng hợp nguồn nƣớc là cần thiết để giúp đối phó với vấn đề trên. Sông Múc II chảy qua địa bàn huyện Hải Hậu – tỉnh Nam Định là một đoạn sông của lƣu vực sông Múc chạy dọc hƣớng Đông Nam qua các xã và thị trấn của huyện và đổ ra biển với chiều dài khoảng 20km2. Sông Múc II thƣờng xuyên diễn ra các hoạt động giao thƣơng buôn bán vận chuyển Hàng hóa, là nguồn cung cấp nƣớc chính cho hoạt động nông nghiệp trên địa bàn huyện và một số mục đích sử dụng khác.
Hiện nay cùng với sự phát triển chung của huyện Hải Hậu và sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp hóa sang công nghiệp hóa và tiểu thủ công nghiệp, phát triển làng nghề truyền thống đã và đang gây lên những vấn đề môi trƣờng tại địa phƣơng nhất là vấn đề nƣớc sạch, đặc biệt những hoạt động phát triển nền kinh tế của ngƣời dân địa phƣơng đã nhanh chóng làm cho chất lƣợng nƣớc sông Múc II có nhiều biến đổi lớn. Mặt khác, theo phản ánh của ngƣời dân sống hai bên bờ sông Múc II,nƣớc sông có màu đen và bốc mùi rất khó chịu ảnh hƣởng đến cuốc sống của ngƣời dân hai bên bờ. Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Múc II để đƣa ra biện pháp xử lý để từ đó có kế hoạch quản lý và sử dụng nguồn nƣớc phù hợp cho sự phát triển kinh tế trên địa bàn Huyện là rất cần thiết. Xuất phát từ vấn đề trên, đề tài “NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG NƢỚC SÔNG MÚC II TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN YÊN ĐỊNH - HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH” đã đƣợc thực hiện.
Với mục tiêu đánh giá đƣợc ảnh hƣởng từ 1 hoạt động sống và phát triển kinh tế - xã hội của con ngƣời tới chất lƣợng nƣớc sông,đề tài nhằm đƣa ra đƣợc biện pháp quản lý và cải thiện và nâng cao chất lƣợng nƣớc sông Múc II một cách hợp lý nhất phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của khu vực. Đề tài đã xác định đƣợc các tác nhân chính gây ảnh hƣởng xấu đến chất lƣợng nƣớc sông Múc II, từ đó có cơ sở để đƣa ra các giải pháp xử lý và quản lý phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng nƣớc sông Múc II trên địa bàn nói riêng và các con sông trên địa bàn huyện Hải Hậu nói chung. 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng tài nguyên nƣớc trên thế giới và Việt Nam 1.
Hiện trạng tài nguyên nước trên thế giới Nƣớc là yếu tố quan trọng đối với sự sống của con ngƣời và sinh vật trên trái đất. Chiếm ¾ diện tích, nƣớc có mặt ở hầu hết khắp mọi nơi nhƣng phân bố không đồng đều trên mặt Trái Đất. Trong tổng trữ lƣợng nƣớc trên Trái Đất, nƣớc mặn từ các đại dƣơng chiếm 97% và trữ lƣợng nƣớc ngọt là 3%. Trong 3% lƣợng nƣớc ngọt của toàn Trái Đất thì 68,7% nƣớc ngọt bị giữ trong băng đỉnh núi và sông băng; 30,1% là nƣớc ngầm, 0,9% là các loại khác và trữ lƣợng nƣớc mặt ngọt là 0,3%.
Tuy nhiên, trong 0,3% trữ lƣợng nƣớc mặn ngọt ở dạng lỏng của Trái Đất thì 87% đƣợc lƣu trữ tại các hồ, 11% đƣợc tích trữ tại các đầm lầy và tại các sông là 2% (Bùi Xuân Dũng, 2006). Nhƣ vậy có thể thấy, nguồn nƣớc mà con ngƣời và sinh vật có thể sử dụng đƣợc chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng trữ lƣợng nƣớc có trên trái đất. Trong khi đó,vấn đề ô nhiễm nƣớc lục địa và đại dƣơng hiện nay đang gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại tiêu biểu nhƣ ở Anh Quốc vào đầu thế kỉ 19, sông Tamise rất sạch nhƣng đến hiện nay nó đã trở thành ống cống lộ thiên. Ở nƣớc Pháp ngƣời dân Paris còn dùng nƣớc sông để ăn uống Seine đến cuối thế kỷ 18 hiện nay các sông lớn và nƣớc ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nƣớc sinh hoạt đƣợc nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm.
Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thƣơng ở bờ phía đông cũng nhƣ nhiều vùng khác. Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng. Hiện trạng tài nguyên nước ở Việt Nam Tài nguyên nƣớc ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngầm ở các thủy vực tự nhiên và nhân tạo nhƣ sông, suối, hồ, ao, đầm phá và các túi nƣớc ngầm… Tổng trữ lƣợng tiềm năng nƣớc dƣới đất chƣa kể các hải đảo ƣớc tính khoảng 60 tỷ m3/năm (Bùi Xuân Dũng, 2006). Nƣớc ta có mạng lƣới sông ngòi khá dày và phân bố dày đặc cả lãnh thổ.
Theo chiến lƣợc quốc gia về tài nguyên nƣớc đến năm 2020 (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2014) nƣớc ta có khoảng 2360 con sông chảy quanh năm. Trong đó có 109 sông chính và 13 hệ thống sông lớn có diện tích lƣu vực trên 10000km2. Tổng lƣợng 3 nƣớc hàng năm chảy qua các sông suối lên tới 835 tỷ m3, tuy có tổng trữ lƣợng nƣớc lớn nhƣng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Lƣợng nƣớc mùa mƣa chiếm 70-80% tổng lƣợng nƣớc trong năm, mùa khô chỉ chiếm 20-30% tổng lƣợng nƣớc (Lê Đức Năm, 2007).
Mật độ sông, kênh trung bình trên cả nƣớc là 0,60 km/ km2; nơi có mật độ cao nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng mật độ 0,45 km/ km2, nơi có mật độ thấp nhất là khu vực Nam Trung Bộ. Mặc dù trữ lƣợng nguồn nƣớc ở Việt Nam đƣợc coi là dồi dào, nhƣng tình trạng ô nhiễm môi trƣờng nƣớc đang là vấn đề nan giải đƣợc các nhà khoa hoc học và các nhà quản lý quan tâm. Có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dần đến tình trạng ô nhiễm môi trƣờng nƣớc nhƣ sự bùng nổ dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh, cơ sở hạ tầng lạc hậu yếu kém, nhận thức của ngƣời dân về vấn đề môi trƣờng chƣa cao … Tình trạng ô nhiễm nƣớc ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tại các thành phố này, một số khu vực chƣa đƣợc quy hoạch triệt để, nƣớc thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mƣơng).
Mặt khác, nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nƣớc thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chƣa có hệ thống xử lý nƣớc thải; một lƣợng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết đƣợc… là những nguồn gây ra ô nhiễm nƣớc nghiêm trọng. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng. Ở thành phố Hà Nội, tổng lƣợng nƣớc thải của thành phố lên tới 300.000 m3/ngày; tính tới nay có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nƣớc thải, chiếm 25% lƣợng nƣớc thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nƣớc thải; lƣợng rác thải sinh hoại chƣa đƣợc thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mƣơng trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mƣơng nội thành đều vƣợt quá quy định cho phép. Ở thành phố Hồ Chí Minh lƣợng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nƣớc thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.
Tƣơng tự, ở các đô thị khác nhƣ Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dƣơng… nƣớc thải sinh hoạt cũng không đƣợc xử lý đã gây ô nhiễm nguồn nƣớc nơi tiếp nhận. Hiện nay, Việt Nam có gần 76% (Chiến lƣợc Quốc gia Cấp nƣớc và Vệ sinh nông thôn, 2000) dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con ngƣời và gia súc không đƣợc xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình 4 trạng ô nhiễm nguồn nƣớc về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Vì vậy, vấn đề quản lý nguồn nƣớc cần đƣợc đặt ra cấp thiết để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này cho hiện tại và tƣơng lai. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nƣớc trên thế giới và Việt Nam 1.
Trên thế giới Dƣới sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp trên toàn thế giới làm tăng nhu cầu về các loại nguyên nhiên liệu quý hiếm, bên cạnh đó nhu cầu về nƣớc là phần không thể thiếu, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất nhƣ chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất., chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ khoảng 90% tổng lƣợng nƣớc sử dụng cho công nghiệp. Thí dụ: cần 1.700 lít nƣớc để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần 3.000 lít nƣớc để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít nƣớc để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000 lít nƣớc để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp (Cao Liêm và Trần đức Viên, 1990). Sự phát triển chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp nhƣ sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi một lƣợng nƣớc ngày càng cao. Theo Gs Huỳnh Thu Hòa - Võ Văn Bé (1974) để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn nƣớc, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nƣớc và 1 tấn bông vải cần đến 10.