CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VÈ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Hoạt động ngân hàng thường được coi là “huyết mạch ” của nền kinh tế nên sự thăng trầm trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kì luôn có dấu ấn của hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng. Do đó, “Tín dụng ngân hàng” luôn thu hút sự quan tâm, nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau của các nhà khoa học, các nhà kinh tế và các nhà quản lý. Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, trong nội dung mục này luận văn sẽ hệ thống hoá 3 vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng, đó là khái niệm, phân loại và quy trình tín dụng.
Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại “Tín dụng” là một phạm trù kinh tế xuất hiện từ lâu và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế- xã hội khác nhau theo hướng ở mỗi hình thái kinh tế xã hội tiên tiến hơn, nhận thức về tín dụng ngày càng sâu, rộng hơn. Nói cụ thể hơn, tuỳ theo góc độ và thời gian nghiên cứu, đã có những khái niệm khác nhau về tín dụng như: (1) Ngôn ngữ dân gian Việt Nam cho rằng, tín dụng biểu hiện một hay nhiều mối quan hệ vay mượn và hoàn trả. Theo cách hiểu này, tín dụng là quan hệ vay vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một thời điểm xác định trong tương lai; (2) Nhà kinh tế Pháp, Louis Baudin xem tín dụng như là “một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”; (3) C.Mác cho rằng, “Tín dụng dưới các hình thức biểu hiện đơn giản là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ, đã khiến cho một người này giao cho người khác một số tư bản nào đó dưới hình thái tiền hoặc hình 6 thái hàng hoá đánh giá một số tiền nhất định nào đó. số tiền này được trả lại trong thời gian nhất định.
khi tư bản được cho vay, người ta tăng số tiền phải hoàn trả lên thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định, coi đó là tiền để trả quyền sử dụng tư bản” [5, tr 123]. Với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội, nhất là sự phát triển của các trung gian tài chính, quan niệm về tín dụng ngày càng hoàn chỉnh hơn. Theo đó, nhiều người cho rằng: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chê tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhât định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. Từ những phân tích trên cho thấy, mối quan hệ tín dụng luôn bao gồm hai mặt cơ bản giữa bên cho vay và bên đi vay với những nội dung chủ yếu như sau: (i) Bên cho vay (ngân hàng) chuyển giao tài sản (tiền hoặc hàng hoá) cho bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác).
(ii) Quá trình chuyển giao tài sản diễn ra trong môi trường nhất đình và dưới nhiều hình thức với kĩ thuật nghiệp vụ cụ thê khác nhau. (iii) Bên đi vay sử dụng tài sản đó vào những mục đích cụ thể khác nhau trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận. (iv) Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Vân đê cân chú ý là lãi suât cho vay phải tính đến yếu tố lạm phát, đảm bảo lãi suất thực dương.
Phân loại tín dụng ngân hàng thương mại “Phân loại” là nội dung phổ biến được tiến hành khi nghiên cứu các vấn đề nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng để đạt được mục đích 7 nghiên cứu. Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên những tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề thiết lập các qui trình cho vay thích hợp, từ đó mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng. Có nhiều tiêu thức khác nhau có thể được lựa chọn để phân loại tín dụng.
Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích nghiên cứu đề tài, luận văn cho rằng cần quan tâm đến phân loại tín dụng theo những tiêu thức sau: Một là, căn cứ vào mục đích, tín dụng được chia thành: Tín dụng kinh doanh và tín dụng tiêu dùng. H a i là, theo thời hạn cho vay, tín dụng bao gồm: Tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Ba là, theo mức độ tín nhiệm với khách hàng. Tín dụng ngân hàng được phân chia thành: Tín dụng không bảo đảm, tín dụng có bảo đảm.
Bổn là, theo phương pháp hoàn trả, tín dụng bao gồm: Tín dụng trả góp, tín dụng phi trả góp và tín dụng hoàn trả yêu càu. Năm là, theo xuất xứ tín dụng. Dựa trên cơ sở này, tín dụng bao gồm: Tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp. Sáu là, căn cứ vào đối tượng khách hàng, số lượng và giá trị khoản vay, tín dụng bao gồm: Tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ.
vấn đề này sẽ được tiếp tục nghiên cứu trong nội dung sau. Bảy là, căn cứ vào hình thức, tín dụng có thể phân chia thành những loại như: Cho vay theo từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay theo dự án, cho thuê tài chính, cho vay đồng tài trợ, bảo lãnh ngân hàng. Quy trình tín dụng ngân hàng thương mại Trong hoạt động kinh doanh tại các NHTM, tín dụng đã, đang và sẽ còn là hoạt động kinh doanh chủ yếu. Sản phẩm tín dụng tuy đa dạng, phong 8 phú nhưng đều được tạo ra bởi những quỉ định và trình tự nhất định hay nói khác đi là theo một qui trình thống nhất.
Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình tổ chức thích họp tại ngân hàng. Trong đó nhiệm vụ của các phòng, ban, bộ phận chức năng được xác định rõ ràng các công việc liên quan đến hoạt động cho vay từ đó làm cơ sở cho phân công trách nhiệm ở từng vị trí. Quy trình tín dụng là quy phạm nghiệp vụ bắt buộc thực hiện trong nội bộ một ngân hàng và thường được in thành văn bản hoặc sổ tay nhằm hướng dẫn việc thực hiện thống nhất những nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng. Nhờ đó, các nhân viên tín dụng biết được trách nhiệm trong công việc, hiểu rõ hơn vai trò của mình và có thái độ, tác nghiệp, xử lý đúng nghiệp vụ, đồng thời xây dựng mối quan hệ phối họp với các đồng nghiệp đem lại hiệu quả cao trong công việc.
Trên cơ sở quy trình tín dụng, ngân hàng sẽ thiết lập các thủ tục hành chính phù hợp với những quy định của luật pháp và đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh. Thiết kế các thủ tục cho vay phải thích ứng với từng nhóm khách hàng, từng loại cho vay cũng như kỹ thuật tín dụng nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết nhưng không gây phiền hà cho khách hàng, cũng như tiết kiệm thời gian cho cả hai bên. Mặt khác, quy trình tín dụng còn là cơ sở để tiến hành kiểm soát hoạt động cấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù họp với thực tiễn. Thông qua kiểm soát thực hiện quy trình tín dụng, nhà quản trị ngân hàng nhanh chóng xác định những khâu, những công việc cần điều chỉnh cũng như hướng đào tạo và phân công tương lai để từ đó kiểm soát được những rủi ro khi tiến hành cấp tín dụng.
9 Mỗi loại sản phẩm tín dụng có đặc điểm riêng nên chi tiết để tạo ra những sản phẩm đó sẽ khác nhau, nhưng tựu trung lại đều được tạo bởi quy trĩnh tổng quát như sau: Sơ đồ 1: QUY TRÌNH TÍN DỤNG TỎNG QUÁT Nội dung chủ yếu của các giai đoạn trên được tiến hành như sau: Một là, lập hồ sơ cấp tín dụng (giai đoạn 1). Đây là giai đoạn khởi đầu để có thể xác lập một quan hệ tín dụng. Người có nhu cầu về vốn tín dụng sẽ phải cung cấp các thông tin, các giấy tờ văn bản cần thiết tuỳ theo từng đổi tượng khách hàng, loại và kĩ thuật cấp tín dụng, qui mô nhu cầu vốn tín dụng. Những thông tin khách hàng cung cấp có thể phân chia thành các nhóm: (1) Giấy đề nghị cấp tín dụng; (2) Những tài liệu chứng minh năng lực pháp lý của khách hàng; (3) Những tài liệu chứng minh khả năng hấp thụ vốn tín dụng và khả năng hoàn trả vốn tín dụng của khách hàng; (4) Những tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng hoặc điều kiện cấp tín dụng đặc thù.
H a i là, phân tích tín dụng (giai đoạn 2). Phân tích tín dụng là giai đoạn quan trọng trong quy trình tín dụng với mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm những 10 tình huống có thể dẫn tới rủi ro cho ngân hàng và dự kiến khả năng kiểm soát của ngân hàng về các rủi ro đó trên cơ sở đề ra các biện pháp thích hợp nhằm phòng ngừa và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Thực chất của phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng về sử dụng vốn và hoàn trả vốn vay ngân hàng thông qua nội dung phân tích tài chính và phi tài chính. Phân tích tài chính là phân tích hiện trạng tài chính và các dự báo về tài chính trong tương lai của khách hàng nhằm tìm kiếm và dự báo những trường hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng thông qua các nội dung như: Đánh giá khái quát về quản trị vốn và các hoạt động kinh doanh; Phân tích hệ số tài chính, phân tích lưu chuyển tiền tệ, phân tích các dự báo tài chính; Xác định qui mô họp lý của nhu cầu vay vốn; Xác định thời hạn khoản vay và kì hạn trả nợ.
Phân tích phi tài chính là phân tích các yếu tố ít hoặc không liên quan đến vấn đề tài chính của khách hàng một cách trực tiếp. Nói khác đi là phân tích kiểm tra tính pháp lý của khách hàng, mục đích vay vốn, tính cách, uy tín, khả năng quản trị kinh doanh của khách hàng.