Giải pháp phát triển thương hiệu Thanh long Bình Thuận 2020 - Trần Nguyên Lộc, ĐH Kinh tế TP.HCM

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Luận văn ThS: Giải pháp phát triển thương hiệu Thanh long Bình Thuận". Dưới đây là kết quả: {

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thương hiệu thanh long Bình Thuận

Thanh long Bình Thuận là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Bình Thuận, nơi chiếm hơn 80% sản lượng thanh long toàn quốc. Diện tích trồng thanh long tại Bình Thuận đạt gần 20.000 ha, sản lượng trên 460.000 tấn mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu khoảng 150 triệu USD. Năm 2012, thanh long Bình Thuận đã được Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ cấp chứng chỉ bảo hộ nhãn hiệu. Đây là bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thanh long tiêu thụ dưới hai hình thức chính: nội địa chiếm 15–20% sản lượng, xuất khẩu chiếm 80–85%. Trong đó, xuất khẩu chính ngạch khoảng 15–20%, còn lại vận chuyển sang Trung Quốc theo hình thức biên mậu. Bình Thuận trồng hai loại thanh long: ruột trắng chiếm đa số và ruột đỏ với diện tích nhỏ hơn. Chất lượng thanh long Việt Nam đã đáp ứng tiêu chí khắt khe của nhiều thị trường khó tính, là loại trái cây đầu tiên được cấp mã số xuất khẩu sang Mỹ.

1.1. Định nghĩa thương hiệu sản phẩm nông sản địa phương

Thương hiệu sản phẩm địa phương là tập hợp các dấu hiệu nhận biết giúp phân biệt sản phẩm của một vùng miền với sản phẩm cùng loại từ nơi khác. Theo quan điểm của Al Ries và Laura Ries, thương hiệu mạnh cần có định vị rõ ràng và tính đặc thù cao. Thương hiệu nông sản địa phương gắn liền với điều kiện tự nhiên, truyền thống canh tác và văn hóa vùng miền. Việc xây dựng thương hiệu giúp tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế. Thanh long Bình Thuận là minh chứng điển hình cho thương hiệu nông sản địa phương được bảo hộ quốc tế.

1.2. Thực trạng phát triển thương hiệu thanh long Bình Thuận

Thương hiệu thanh long Bình Thuận đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong giai đoạn 2010–2013. Mã số vùng trồng được cấp phép xuất khẩu vào thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản. Tuy nhiên, phần lớn sản lượng vẫn tiêu thụ qua kênh biên mậu sang Trung Quốc, phụ thuộc lớn vào một thị trường duy nhất. Giá trị thương hiệu chưa tương xứng với tiềm năng sản xuất. Công tác xúc tiến thương mại còn manh mún, thiếu chiến lược dài hạn. Nhận diện thương hiệu trên bao bì, tem truy xuất nguồn gốc chưa đồng bộ giữa các cơ sở đóng gói.

II. Phân tích vấn đề xây dựng thương hiệu thanh long Bình Thuận

Quá trình xây dựng thương hiệu thanh long Bình Thuận đối mặt với nhiều thách thức từ nội tại sản xuất đến cạnh tranh thị trường. Thứ nhất, quy trình canh tác chưa đồng bộ giữa các nông hộ. Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật còn tự phát, ảnh hưởng đến chất lượng đồng đều của sản phẩm. Thứ hai, hệ thống chuỗi cung ứng còn yếu. Cơ sở hạ tầng bảo quản, vận chuyển thiếu hiện đại, dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao sau thu hoạch. Thứ ba, chiến lược marketing chưa bài bản. Hầu hết nông dân và doanh nghiệp nhỏ chưa nhận thức đầy đủ vai trò của thương hiệu trong tạo giá trị gia tăng. Thứ tư, cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu thanh long khác ngày càng gay gắt. Trung Quốc tự phát triển diện tích thanh long lớn, giảm nhu cầu nhập khẩu. Indonesia, Malaysia cũng đẩy mạnh xuất khẩu thanh long vào các thị trường truyền thống của Việt Nam. Các vấn đề trên đòi hỏi giải pháp tổng thể và đồng bộ.

2.1. Thách thức về chất lượng sản xuất và chuỗi cung ứng

Chất lượng thanh long thương mại phụ thuộc vào màu sắc, hình dạng và độ sạch của quả. Tiêu chuẩn xuất khẩu yêu cầu quả không bị nấm bệnh, vỏ bóng, màu đỏ đều trên 70% diện tích, tai thẳng cứng và dài trên 1,5 cm. Nhiều nông hộ chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn này. Hệ thống kho lạnh và xe vận chuyển chuyên dụng còn thiếu. Tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch có thể lên đến 15–20%. Chuỗi cung ứng phân mảnh giữa nông dân, thương lái và doanh nghiệp xuất khẩu khiến truy xuất nguồn gốc khó khăn.

2.2. Hạn chế trong chiến lược marketing và xúc tiến thương mại

Chiến lược xúc tiến thương mại thanh long Bình Thuận còn thiếu tính hệ thống. Ngân sách dành cho quảng bá thương hiệu tại các hội chợ quốc tế hạn chế. Doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu bán sản phẩm thô, chưa xây dựng nhãn hiệu riêng trên thị trường mục tiêu. Hoạt động truyền thông số chưa được khai thác hiệu quả. Website giới thiệu sản phẩm thiếu nội dung đa ngôn ngữ. Mối liên kết giữa nhà sản xuất, chính quyền địa phương và cơ quan xúc tiến thương mại chưa chặt chẽ, dẫn đến nỗ lực quảng bá bị phân tán và kém hiệu quả.

III. Giải pháp phát triển thương hiệu thanh long Bình Thuận

Phát triển thương hiệu thanh long Bình Thuận cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp chiến lược. Nhóm giải pháp thứ nhất tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm. Xây dựng quy trình canh tác VietGAP và GlobalGAP tại các vùng trọng điểm. Đầu tư hệ thống nhà sơ chế, kho lạnh hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nhóm giải pháp thứ hai đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Tham gia tích cực các hội chợ quốc tế như Fruit Logistica, ASIA FRUIT LOGISTICA. Xây dựng website thương hiệu đa ngôn ngữ, ứng dụng công nghệ blockchain trong truy xuất nguồn gốc. Nhóm giải pháp thứ ba hoàn thiện cơ chế bảo hộ. Đăng ký nhãn hiệu tại các thị trường trọng điểm: EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc. Xây dựng chỉ dẫn địa lý cho thanh long Bình Thuận. Nhóm giải pháp cuối cùng là tăng cường liên kết chuỗi. Thành lập hiệp hội thanh long Bình Thuận, xây dựng quỹ phát triển thương hiệu từ phí xuất khẩu. Phát triển sản phẩm chế biến sâu giảm phụ thuộc thị trường tươi.

3.1. Chiến lược nâng cao chất lượng và chuỗi giá trị thanh long

Nâng cao chất lượng bắt buộc triển khai quy trình VietGAP và GlobalGAP trên diện rộng. Các hợp tác xã đóng vai trò trung tâm trong hướng dẫn kỹ thuật và kiểm soát chất lượng. Ứng dụng công nghệ cao như hệ thống tưới nhỏ giọt, bao trái bằng giấy sinh học giúp quả đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Đầu tư nhà máy sơ chế đóng gói hiện đại với công suất lớn, giảm thời gian từ thu hoạch đến làm lạnh. Phát triển dòng sản phẩm chế biến: nước ép, rượu vang, sấy khô để đa dạng hóa chuỗi giá trị, giảm rủi ro khi thị trường tươi biến động.

3.2. Giải pháp xúc tiến thương mại và bảo hộ nhãn hiệu quốc tế

Xúc tiến thương mại cần xây dựng kế hoạch dài hạn với ngân sách đủ lớn. Tham gia hội chợ quốc tế giúp tiếp cận trực tiếp nhà nhập khẩu uy tín. Ứng dụng marketing số: mạng xã hội, nền tảng thương mại điện tử B2B để kết nối thị trường. Đăng ký nhãn hiệu tập thể tại các thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đảm bảo quyền lợi pháp lý. Xây dựng hệ thống tem QR-code truy xuất nguồn gốc từ nông hộ đến tay người tiêu dùng. Truyền thông câu chuyện thương hiệu thanh long Bình Thuận gắn liền văn hóa và vùng đất Chăm.

IV. Kết luận và hướng phát triển bền vững thương hiệu thanh long

Nghiên cứu về giải pháp phát triển thương hiệu thanh long Bình Thuận đến năm 2020 cho thấy nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Thương hiệu thanh long Bình Thuận đã có nền bước nền tảng vững chắc với bảo hộ nhãn hiệu tại Hoa Kỳ, mã số xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính. Tuy nhiên, để thương hiệu thực sự trở thành tài sản giá trị, cần nỗ lực đồng bộ từ nông dân, doanh nghiệp đến chính quyền địa phương. Các giải pháp đề xuất bao gồm nâng cao chất lượng theo chuẩn quốc tế, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, bảo hộ nhãn hiệu và phát triển sản phẩm chế biến sâu. Liên kết chuỗi giá trị là yếu tố then chốt. Hiệp hội thanh long Bình Thuận cần phát huy vai trò điều phối, xây dựng quỹ phát triển thương hiệu bền vững. Hướng phát triển tương lai cần gắn với nông nghiệp thông minh, kinh tế tuần hoàn và cam kết giảm phát thải carbon. Thanh long Bình Thuận có tiềm năng trở thành thương hiệu nông sản hàng đầu Đông Nam Á.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu phát triển thương hiệu

Nghiên cứu đóng góp vào hệ thống lý luận về quản trị thương hiệu nông sản địa phương tại Việt Nam. Khung lý thuyết kết hợp mô hình xây dựng thương hiệu của Keller với điều kiện thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp bộ công cụ đánh giá và lộ trình phát triển thương hiệu áp dụng được cho các sản phẩm nông sản khác. Bài học từ thanh long Bình Thuận có thể nhân rộng cho vải thiều Bắc Giang, xoài Cao Lãnh, bưởi Da xanh Bến Tre.

4.2. Hướng phát triển bền vững cho thương hiệu thanh long Bình Thuận

Phát triển bền vững yêu cầu tích hợp mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Áp dụng nông nghiệp hữu cơ, giảm hóa chất bảo vệ thực vật giúp sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn thị trường khó tính. Đào tạo nông dân kỹ năng quản lý chất lượng và tiếp thị số. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Khai thác thị trường nội địa với phân khúc cao cấp. Ứng dụng công nghệ IoT trong giám sát vườn trồng, đảm bảo minh bạch thông tin cho người tiêu dùng toàn cầu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/04/2026
Luận văn thạc sĩ giải pháp phát triển thương hiệu thanh long bình thuận đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 này giới thiệu các lý thuyết về thương hiệu sản phẩm địa phương và phát triển thương hiệu đã được phát triển trên thế giới và Việt Nam. Một mô hình lý thuyết nghiên cứu và các giả thuyết cũng được xây dựng. KHÁI NIỆM THƯƠNG HIỆU VÀ THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái niệm về thương hiệu Từ thương hiệu ra đời cách đây hàng trăm năm để phân biệt hàng hóa của nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác.

Từ brand nghĩa là thương hiệu xuất phát từ ngôn ngữ Nauy cổ “brandi”, nghĩa là “đóng dấu bằng sắt nung”, tức những người chủ đóng dấu lên con vật nuôi của mình để dễ nhận biết (Keller 1997). Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về thương hiệu. Quan điểm truyền thống cho rằng: - Thương hiệu là một ý hoặc khái niệm duy nhất trong đầu khách hàng của bạn khi nghe đến tên doanh nghiệp bạn (Al & Laura Ries 2007). - Thương hiệu là một tên được phân biệt và (hay) biểu tượng như logo, nhãn hiệu cầu chứng (trade mark) hay kiểu dáng bao bì có dụng ý xác định hàng hóa dịch vụ của một người bán, hay của một nhóm người bán và để phân biệt với các sản phẩm hay dịch vụ này với các sản phẩm hay dịch vụ của đối thủ (Aaker 1991).

- Theo Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng, hình vẽ thiết kế…, hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một hoặc một nhóm người bán với hàng hóa hoặc dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh” (Keller 1997). Với quan điểm truyền thống, thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là nhằm phân biệt sản phẩm của mình với đối thủ cạnh tranh. Quan điểm truyền thống tồn tại và phát triển trong thời gian khá dài, tuy nhiên, trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế, vai trò của thương hiệu ngày càng mở rộng. Ví dụ, các nước Công nghiệp nhập khẩu sản phẩm (qua đặt hàng gia công) từ các nước đang phát triển nhưng gắn nơi sản xuất từ các 6 nước công nghiệp để tăng hình ảnh thương hiệu và bán giá cao.

Như vậy, theo tác giả, quan điểm truyền thống không còn phù hợp. Quan điểm tổng hợp về thương hiệu đại cho rằng: - Thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều (Davis 2002). - Thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng.

Như vậy các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu (Ambler & Styles 1996). - Thương hiệu bao giờ cũng là một sự kết hợp giữa các thuộc tính hữu hình và vô hình (Levitt 1981). Như vậy, Thương hiệu là hình tượng về một cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc hình tượng về một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ trong tâm trí khách hàng; là một tập hợp các dấu hiệu (signals) để phân biệt hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Các dấu hiệu có thể là chữ cái (P&G), con số (333), hình vẽ, hình tượng, màu sắc, âm thanh, nhân vật đại diện… Hai quan điểm về thương hiệu trên minh họa ở Hình 1.

Quan điểm truyền thống: Thương Quan điểm tổng hợp: Sản phẩm là hiệu là 1 thành phần của sản phẩm 1 thành phần của thöông hieäu SẢN PHẨM THƯƠNG HIỆU Thương hiệu Sản phẩm Hình 1.1: Hai mô hình về mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2007), Nguyên lý marketing, NXB ĐHQG TP. Quan điểm tổng hợp cho rằng sản phẩm là thành phần của thương hiệu 7 ngày càng được chấp nhận trong thực tiễn, cũng như trong giới khoa học kinh tế. Lý do là người tiêu dùng có hai nhu cầu: (1) nhu cầu về chức năng (functional needs) và (2) nhu cầu về tâm lý (psychological needs). Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng, còn thương hiệu mới có thể cung cấp cho con người cả lợi ích chức năng và lợi ích về mặt tâm lý (Hankinson & Cowking 1996).

Có thể so sánh về sản phẩm, nhãn hiệu và thương hiệu như sau (Bảng 1.1: Bảng so sánh về sản phẩm, nhãn hiệu và thương hiệu Sản phẩm Nhãn hiệu (trademark) Thương hiệu (brand) - Lá cái mà nhà máy - Là cái mà Pháp luật công - Là cái mà khách hàng công sản xuất nhận (đăng ký, bảo vệ) nhận/mua - Là phần “XÁC” (các - Là phần “XÁC” bao gồm - Thương hiệu là phần “HỒN”, thành phần, yếu tố của các dấu hiệu phân biệt giữa bao gồm uy tín, hình ảnh, tiếng sản phẩm) sản phẩm với sản phẩm. tăm, cảm nhận, liên tưởng … - Lý tính (Rational) - Cảm tính (Emotional) - Dễ dàng tính toán - Hiện diện trong tâm trí KH giá trị, giá cả - Khó tính toán giá trị, giá cả (Nguồn: Bùi Văn Quang (2008), Xây dựng thương hiệu ngành mì ăn liền Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM) Dựa trên các quan điểm và phân tích khác nhau về thương hiệu, tác giả cho rằng, khái niệm về thương hiệu của Aaker khá phổ biến và được nhiều học giả và các nhà quản trị tán đồng trong nghiên cứu và phân tích về giá trị thương hiệu đã giải quyết được các quan điểm phù hợp với thực tiễn. Thương hiệu sản phẩm địa phương 1. Chỉ dẫn địa lý Chỉ dẫn địa lý là những từ, tên gọi, dấu hiệu, biểu tượng, hình ảnh được sử dụng để chỉ ra rằng sản phẩm có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.

Ngày 10/3/2000, Nghị định của Chính phủ số 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương 8 mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp đã đưa ra quy định về CDĐL như sau: “Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hóa đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: - Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia; - Thể hiện trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của hàng hóa có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên. Tên gọi xuất xứ hàng hóa Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó. “Tên gọi xuất xứ hàng hóa là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó” (Bộ Luật Dân sự 1995, điều 786). Mối quan hệ giữa chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa Thực chất tên gọi xuất xứ hàng hóa là một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý.

Nếu một chỉ dẫn địa lý chỉ là tên gọi (địa danh) và uy tín, danh tiếng của sản phẩm đạt đến mức đặc thù gắn liền với vùng địa lý đó thì chỉ dẫn như vậy được gọi là tên gọi xuất xứ hàng hóa. Nếu chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hóa thì việc bảo hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tên gọi xuất xứ hàng hóa. Các thông tin địa lý đã trở thành tên gọi thông thường của hàng hóa, đã mất khả năng chỉ dẫn nguồn gốc địa lý thì không được bảo hộ dưới danh nghĩa là chỉ dẫn địa lý. Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ (không bao gồm tên gọi xuất xứ hàng hóa) mà không đòi hỏi phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tên gọi 9 xuất xứ hàng hóa chỉ được bảo hộ thông qua việc đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Giấy chứng nhận đăng ký tên gọi xuất xứ hàng hóa có hiệu lực vô thời hạn. Tên địa lý nước ngoài chỉ được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam nếu đang được bảo hộ tại nước mang tên hoặc có địa phương mang tên đó. Việc sử dụng bất cứ chỉ dẫn nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ gây nhầm lẫn cho công chúng về nguồn gốc của sản phẩm mang chỉ dẫn đó đều bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Vai trò của thương hiệu 1. Vai trò của thương hiệu đối với khách hàng Thương hiệu chỉ có ý nghĩa đối với DN trong cạnh tranh trên thương trường là khi nó có vai trò lớn đối với người tiêu dùng. - Thương hiệu tạo lòng tin của người tiêu dùng về chất lượng, về giá cả hàng hóa mà họ tiêu thụ, sử dụng. Thương hiệu sẽ cho NTD biết được nguồn gốc của sản phẩm, tin được rằng hàng hóa đó có chất lượng bảo đảm và đã được kiểm chứng qua thời gian, giúp NTD giảm chi phí, thời gian tìm hiểu sản phẩm.

- Thương hiệu sẽ góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD. Thương hiệu sản phẩm được nhà nước bảo hộ sẽ ngăn ngừa tình trạng sản phẩm bị làm giả, làm nhái nhằm lừa gạt NTD. - Thương hiệu khuyến khích tâm lý tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ có thương hiệu nổi tiếng. Trong xã hội của các nước công nghiệp phát triển, tầng lớp những NTD có thu nhập cao, họ không chỉ sẵn sàng trả tiền cho giá trị sản phẩm mà còn trả tiền cho sự hài lòng của mình khi mua được sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng.

Vai trò của thương hiệu đối với DN Thương hiệu không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với khách hàng mà còn đóng vai trò quan trọng đối với DN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ