CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÊ cơ BẢN VÊ PHÁT TRIỂN DỊCH vụ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIẾU KIỆN HỘI NHẬP KINH TÊ QUỐC TÊ 1. Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc trung dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng a.
Ngân hàng thương mại: Có nhiều cách khái niệm ngân hàng song nhìn chung mọi quốc gia đều thống nhất định nghĩa: ngân hàng là 1 tổ chức trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế, đặc biệt là dịch vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vu thanh toán. Luât các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 11/12/1997 quy định “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dung, cung ứng các dịch vụ thanh toán” và “ngân hàng thương mại là 1 loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”. Như vậy, ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Hoạt động Ngân hàng phục vụ các doanh nghiệp, các cá nhân thông qua các dịch vụ của mình.
Dịch vụ ngân hàng Vậy chúng ta hiểu dịch vụ ngân hàng là gì? Trước hết cần làm rõ thuật ngữ “Dịch vụ”. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ, tính đa dạng, phức tạp, vô hình (phi vật chất) của các loại hình dịch vụ đã làm cho việc thống nhất về khái niệm dịch vụ trỏ nên khó khăn. Không chỉ ở nước ta mà trên thê giới, mỗi quốc gia đều có những cách hiểu về dịch vụ khác nhau. Vì thê hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới WTO cũng không nêu khái niệm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn gồm 155 phân ngành, ở Việt Nam, từ điển bách khoa Việt Nam giải thích dịch vụ “là các hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”.
Vậy, dịch vụ ngân hàng được khái niệm như thế nào? Theo WTO, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm của dịch vụ tài chính, với cách đó việc không tách bạch - 4 - rạch ròi được đâu là dịch vụ ngân hàng đã làm phát sinh những khó khăn trong việc xác định những dịch vụ ngân hàng thuần tuý. ờ nươc ta, đên nay chưa có sự minh định rõ ràng về khái niệm dich vu ngân hàng Co khong Ít quan niệm cho răng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của 1 trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi.), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng (như chuyển tiền, thu uỷ thác, mua hán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán,. Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng. Theo quan niệm này toàn bọ cac hoạt động tiên tệ, tín dụng, thanh toán, ngoai hối.
của hê thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng cho nền kinh tế. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì cũng như nhiều nước phát triển. Đặc trưng của dịch vụ ngân hàng Hoạt động của dịch vụ ngân hàng không trực tiếp tham gia vào sản xuất và lưu thong hang hoa như cac doanh nghiêp khac mà nó thưc hiên các chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán làm các dịch vụ tiền tệ tư vấn tài chính cho khách hàng. Thông qua việc thực hiện các chức năng trung gian của mình, ngân hàng thương mại nam trong tay 1 bọ phạn lơn nhât cua cai cua xa hôi dưới dang giá tri nhưng không có quyền sở hữu chúng, mà chỉ có quyền sử dụng với những điều kiện ràng buộc đòi hỏi ngân hàng phải chịu trách nhiệm vật chất đối với những người chủ sở hữu thực của các tài sản này.
Có thể nói nguyên liệu kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng thương mại là “quyền sử dụng các khoản tiền tệ” - là loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao do vậy việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng cũng có những đặc trưng riêng biệt: Thứ nhất, dịch vụ ngân hàng luôn đề cao tính an toàn trong quá trình hoạt động. Nhu chúng ta biết, một trong các loại hình dich vu chủ yếu của ngân hàng thương mai là dịch vụ tín dụng. Bằng cách huy động vốn từ nền kinh tế và cho vay, song phải có trách nhiệm hoàn trả, việc thiếu khả năng thanh toán sẽ dẫn đến sự đổ vỡ và phá sản cua ngan hang nôn khi thực hiện dịch vụ này, ngân hàng phải đề cao các biên pháp bảo đảm an toàn hoạt động kinh doanh như: lựa chọn khách hàng, lựa chọn sản phẩm đầu - 5 - tư, có các biện pháp chống đỡ được những biến động của thị trường,. để phân tán rủi ro, nâng cao lợi nhuận và bảo đảm thanh khoản.
Thứ hai, quá trình thực hiện các dịch vụ ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào khách hàng. Các sản phẩm ngân hàng có tính phi vật chất, không thể dự trữ, không thể tổn kho để khi thị trường cần thì đưa ra tiêu thụ như hàng hoá hữu hình, sản phẩm dịch vụ ngân hàng chỉ bắt đầu khi khách hàng chuyển đến ngân hàng các lệnh, các uỷ nhiệm của họ phát sinh từ các hợp đồng giao dịch thương mại, tín dụng hoặc phải hoàn thành một nghĩa vụ tài chính nào đó. Do vậy việc triển khai các dịch vụ ngân hàng phải quan tâm trước hết là nhu cầu của khách hàng và phải xuất phát từ phía khách hàng. Thứ ba, cạnh tranh về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng giữa các ngân hàng là rất quyết liệt.
Do ngân hàng thương mại bị chi phối bởi đặc điểm dùng nguyên liệu chính là “tiền”, loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao nên chỉ cần sự thay đổi nhỏ về lãi suất (kể cả cho vay và huy động) cũng sẽ gây ra sự chuyển dịch của khách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Tính nhạy cảm cao thể hiện rõ trong trường hợp khi ngân hàng thương mại này tạo ra sản phẩm được xã hội ưa chuông thì ngay lập tức các ngân hàng khác cũng tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh trong khi các doanh nghiệp để làm được việc này thì cần phải có khoảng thời gian dài mới có thể nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mới. Như vậy tính cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng phát sinh từ sự dễ thay đổi của khách hàng trong quan hệ giao dịch với ngân hàng nhằm mục đích mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp nhất và bán nguyên liệu “tiền” với giá cao nhất. Thứ tư, quá trình thực hiện dịch vụ ngân hàng phụ thuộc nhiều vào môi trường kinh doanh, ngân hàng là một trong số loại hình doanh nghiệp được giám sát chặt chẽ nhất bởi sự đổ vỡ của ngân hàng sẽ kéo theo sự đổ vỡ của cả nền kinh tế vì vậy buộc ngân hàng phải được quản lý theo luật và các quy định khác đã được ban hành hay nói cách khác các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thường xuyên đổi mới với những điều kiện kinh tế năng động và những điều chỉnh của pháp luật.
Mặt khác mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng là mối quan hệ dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau và tạo điều kiện thuận lợi cho vay. Do vậy môi trường kinh doanh của mỗi quốc gia đều ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các dịch vụ của ngân hàng. Thứ năm, quá trình thực hiện dịch vụ ngân hàng phụ thuộc nhiều vào công nghệ ngân hàng. Với sự phát triển cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ ngân hàng -6 - có những bước nhảy vọt và có khuynh hướng quốc tế hoá, trở thành nguồn nội lực của mọi ngân hàng về tư duy kinh doanh, tạo ra các sản phẩm thích ứng với thị trường vì vậy, dịch vụ ngân hàng không thể tách rời việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế nước ta để có thể linh hoạt, liên tục đổi mới nhằm thích ứng với những biến đổi của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng phải bám sát sự tiến bộ và phát triển về công nghệ của ngân hàng trên thế giới để tạo ra những sản phẩm hiện đại phù hợp với xu thế phát triển và được xã hội chấp nhận.
Các loại hình dịch vụ chủ yếu của ngân hàng thưorng mại 1. Huy động vốn Ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ chủ yếu không phải bằng vốn tự có của mình, mà chủ yếu bằng vốn của những người gửi tiền, vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn là một nghiệp vụ cơ bản, quan trọng đầu tiên đối với một ngân hàng. Thứ nhất: Nghiệp vụ nhận tiền gửi Với dịch vụ nhận gửi, ngân hàng sẽ huy động vốn của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế qua tài khoản séc, tài khoản vãng lãi; tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi của khách hàng thường chia làm hai loại: Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
Lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn bao giờ cũng lớn hơn lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn, nên các ngân hàng cần có chính sách khuyến khích khách hàng gửi tiền không kỳ hạn, chủ yếu bằng cách tự đổi mới mình thành người cung cấp nhiều loại dịch vụ ngân hàng tốt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh có hiệu quả, thu hút khách hàng đến ngân hàng nhiều hơn với nguồn tiền nhàn rỗi của họ. - Tài khoản tiền gửi tiết kiệm Phần lớn là tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân, tuy số tiền gửi của mỗi người không nhiều, nhưng số người gửi đông nên tiền gửi tiết kiệm của nhiều triệu người trong nước thực sự là một nguồn vốn kinh doanh quan trọng của ngân hàng, đồng thời việc thu hút nhiều nguồn vốn này còn có tác dụng kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Số lượng tiền gửi tiết kiệm thu hút được nhiều hay ít, trước hết phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa của nó có cao hơn lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát hay không.