Chương 1: C s lý luận về ph t tri n d ch v ngân hàng b n lẻ tại các ngân hàng thư ng mại. Chương 2: Thực trạng d ch v ngân hàng b n lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thư ng Việt Nam chi nh nh ng a Hà Nội. Chương 3: Giải ph p ph t tri n d ch v NHBL cho Ngân hàng TMCPC ng Thư ng Việt Nam chi nh nh ng a. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ L LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN D CH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Thuật ngữ “ngân hàng” đã ngày càng trở nên quen thuộc và càng quan trọng hơn khi nền kinh tế hội nhập với qui mô toàn cầu. Nói đến “ngân hàng”, mọi ngƣời đều nghĩ ngay đến một tổ chức chuyên kinh doanh về lĩnh vực tài chính và tiền tệ, tuy nhiên không phải ai cũng có thể hiểu một cách cụ thể về các chức năng và hoạt động của một ngân hàng một cách đúng nghĩa [5]. Một trong những khái niệm đầy đủ và cụ thể về ngân hàng đƣợc nêu tại Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12/12/1997 thì “ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Trong đó, một TCTD đƣợc định nghĩa “là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo qui đ nh của Luật này và theo các qui đ nh khác của Pháp luật đ hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm d ch v ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử d ng tiền gửi đ cấp tín d ng và cung ứng c c d ch v thanh toán” [5], [6] Ngoài ra, theo Nghị định Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 cũng có nêu: “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì m c tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các m c tiêu kinh tế của Nhà nước”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. [2] Nhƣ vậy, có thể nói một cách tổng quan NHTM là định chế tài chính mang tính trung gian và thực sự quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ vào hệ thống NHTM mà nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội đƣợc tập trung lại 7 với số lƣợng lớn, đồng thời đƣợc đƣa vào sử dụng nhằm tái cấp nguồn vốn ấy cho các tổ chức kinh tế (TCKT), cá nhân hiện có nhu cầu về vốn, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Ngày nay, hoạt động của một NHTM còn đƣợc phát triển và mở rộng với việc cung cấp các dịch vụ - tiện ích về tài chính khác nhằm mục đích phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Hệ thống ngân hàng hiện nay đƣợc chia làm hai bộ phận chính: ngân hàng trung ƣơng và các ngân hàng trung gian. Ngân hàng trung ƣơng (NHTW): Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới dù lớn hay nhỏ đều có một NHTW. Các ngân hàng này đảm nhận nhiều vai trò rất quan trọng nhƣ: Chủ ngân hàng của chính phủ; Chủ ngân hàng cho các ngân hàng trung gian hoặc các tổ chức tài chính, Điều hòa sự phát hành tiền tệ; Quản lý dự trữ quốc gia, Quản lý hệ thống tài chính quốc gia, Điều tiết kinh tế vĩ mô [8].
Ngân hàng trung gian (NHTG): Hầu nhƣ ở tất cả các quốc gia, bộ phận lớn nhất trong hệ thống ngân hàng hiện đại là hệ thống NHTG và các chi nhánh của nó. Chức năng trung gian của các ngân hàng này thể hiện ở hai khía cạnh. Trƣớc hết là trung gian giữa NHTW và công chúng, theo đó NHTG một mặt giao dịch với NHTW, một mặt giao dịch với công chúng. Thứ hai, chức năng trung gian thể hiện ở việc môi giới giữa ngƣời gửi tiền và ngƣời vay tiền.
Ngân hàng trung gian bao gồm các loại sau: ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng đầu tƣ và phát triển, ngân hàng đặc biệt và ngân hàng có mục đích xã hội [8]. Vì sự liên đới mật thiết với nhau trên thị trƣờng tiền tệ và tài chính, nhiều tổ chức không phải là ngân hàng nhƣng cũng tham gia vào hoạt động vay, cho vay và kinh doanh tiền tệ nhƣ các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, các quỹ tiền tệ. đƣợc nhiều nƣớc xem là bộ phận thứ ba của hệ thống ngân hàng. Chức năng của Ngân hàng thƣơng mại Là một trong các loại ngân hàng trung gian nên ngân hàng thƣơng mại có đầy đủ ba chức năng chủ yếu là: chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền [8].Chức năng trung gian tín dụng.
Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng cơ bản nhất, phản ánh rõ nét nhất bản chất của một NHTM, là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay và hƣởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay. Với vai trò là trung gian tín dụng, NHTM đã đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngƣời gửi tiền, ngƣời đi vay tiền, NHTM và qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế [5],[8].
Chức năng trung gian thanh toán Ở đây, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp ngƣời phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phƣơng thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM, tạo ra sự khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình 9 chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội [5]. Phân loại Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Phân loại dựa vào hình thức sở hữu Dựa vào hình thức sở hữu, các NHTM đƣợc chia ra thành các loại gồm: ngân hàng thƣơng mại quốc doanh, ngân hàng thƣơng mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100 vốn nƣớc ngoài, ngân hàng tƣ nhân [17]: Ngân hàng thư ng mại qu c doanh: là ngân hàng đƣợc thành lập từ vốn thuộc Ngân sách Nhà nƣớc, là trụ cột của nền kinh tế. Ở Việt Nam, ban đầu những ngân hàng này là những ngân hàng chuyên doanh, đến năm 1992 thì đổi tên và trở thành ngân hàng kinh doanh đa năng. Ví dụ: Ngân hàng TMCP VietinBank.
Ngân hàng thư ng mại cổ phẩn (TMCP): là ngân hàng đƣợc thành lập từ vốn góp của các cổ đông, kinh doanh đa năng. Hệ thống ngân hàng TMCP bao gồm hai loại: ngân hàng TMCP đô thị và ngân hàng TMCP nông thôn. Hiện nay, tất cả các NHTM tại Việt Nam đều là ngân hàng TMCP và đƣợc thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Ví dụ: ngân hàng TMCP SeaBank, Ngân hàng TMCP ACB, ngân hàng TMCP SacomBank, ngân hàng TMCP Techcombank Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng do các bên liên doanh góp vốn, tỷ lệ đóng góp của các đối tác nƣớc ngoài không quá 50% vốn điều lệ.
Ví dụ: Ngân hàng liên doanh ShinhanVina, Ngân hàng liên doanh Indovina, Ngân hàng liên doanh Viet Lao, Ngân hàng liên doanh Viet Nga 10 Ngân hàng 100% v n nước ngoài: là ngân hàng đƣợc thành lập theo pháp luật Việt Nam do chủ sở hữu nƣớc ngoài cấp 100% vốn; đƣợc quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng cho thị trƣờng Việt Nam; thời gian hoạt động không vƣợt quá 99 năm. Ví dụ: ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân hàng HSBC Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam… Ngân hàng tư nhân: Do cá nhân thành lập bằng vốn của cá nhân đó. Loại hình ngân hàng này thƣờng nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp; thƣờng có mối quan hệ tốt với khách hàng. Tuy nhiên, loại hình ngân hàng tƣ nhân theo cách tiếp cận này chƣa xuất hiện tại Việt Nam 1.
Phân loại dựa vào chiến lược kinh doanh: Dựa vào chiến lƣợc kinh doanh các NHTM đƣợc chia ra thành ngân hàng thƣơng mại bán buôn, ngân hàng thƣơng mại bán lẻ, ngân hàng thƣơng mại vừa bán buôn vừa bán lẻ [5]. Ngân hàng thư ng mại b n bu n: là NHTM tập trung nhắm đến đối tƣợng khách hàng là các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các xí nghiệp lớn.