Phần mở đầu. Công nghệ thông tin và vai trò của nó trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Thực trạng phát triển CNTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Cơ hội ,thách thức và một số giải pháp phát triển CNTT tại Việt nam.
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI .1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Công nghệ thông tin 1.1 Một số khái niệm về CNTT. Công nghệ thông tin (CNTT) là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình ảnh. Vì vậy, CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người. Tuy khái niệm thông tin rất phổ biến trong đời sống con người nhưng những nội dung khoa học chung nhất về thông tin và quá trình thông tin mới chỉ được bắt đầu được nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20, khi nhu cầu truyền tin của con người tăng rất nhanh.
Một trong những thành tựu đặc sắc của lý thuyết truyền tin là việc đưa ra khái niệm lượng thông tin. Lý thuyết về lượng thông tin ra đời đã tạo nền móng cho con người phát hiện ra thêm nhiều quy luật của thông tin và quá trình truyền tin. Thông tin có nhiều loại khác nhau có thông tin là các số liệu, dữ liệu thu thập, điều tra, khảo sát. Từ đó qua phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn.
CNTT và truyền thông (ICT) bao gồm 4 trụ cột cấu thành: ứng dụng ICT, nguồn nhân lực ICT, công nghiệp ICT và cơ sở hạ tầng ICT. Lĩnh vực ứng dụng ICT gồm: kinh tế, xã hội, quản lý và những kết quả ứng dụng như : chính phủ điện tử , giáo dục điện tử, truyền thông và giải trí điện tử … z 5 Công nghiệp ICT gồm Công nghiệp phần mềm (CNPM), Công nghiệp phần cứng( CNPC), Công nghiệp điện tử cùng các nhân tố hỗ trợ như trí thức, thông tin, dữ liệu…. CNPC bao gồm: máy tính, công nghiệp điện tử, công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông. CNPM là một ngành kinh tế nhằm nghiên cứu, xây dựng phát triển , sản xuất và phân phối các sản phẩm phần mềm, cung cấp các dịch vụ đào tạo, huấn luyện, tư vấn các giải pháp, hỗ trợ kỹ thuật, bảo trì cho người tiêu dùng… Nguồn nhân lực ICT gồm : người lãnh đạo, người sử dụng, Doanh nghiệp và chuyên gia.
Cơ sở hạ tầng ICT gồm: điện thoại di động, cố định, internet, băng thông, cước. Bốn thành phần này có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ tạo nên sức mạnh ICT, được thúc đẩy và phát triển bởi 3 chủ thể là người sử dụng, Doanh nghiệp và Chính phủ. Máy tính điện tử và việc xử lý thông tin bằng máy tín điện tử là thành phần cốt lõi của CNTT. Máy tính điện tử (MTĐT).
Để chế tạo ra MTĐT người ta phải tìm được cách biểu diễn thông tin bằng các tín hiệu kỹ thuật và cách thực hiện các hoạt động lưu trữ, xử lý thông tin bằng các biện pháp xử lý kỹ thuật trên các tín hiệu tương ứng. MTĐT đã trở thành thiết bị xử lý thông tin thống nhất và đa năng. Trên nguyên tắc mọi quá trình xử lý thông tin đều có thể quy về một trình tự thực hiện liên tiếp của các phép toán sơ cấp đơn giản, cấu trúc một MTĐT gồm: bộ lôgic số học thực hiện các phép toán sơ cấp theo trình tự quy định, bộ nhớ để ghi các chương trình tính toán và dữ liệu, các thiết bị đưa dữ liệu vào và đưa kết quả ra. Kết cấu này được gọi là phần cứng của máy tính, nó là bộ khung vật chất cơ bản cho quá trình xử lý thông tin.
Phần lôgic của quá trình xử lý thông tin được người dùng đưa vào để điều khiển thông qua các lệnh. Tập hợp các lệnh đó tạo nên một chương trình xử lý thông tin và đó gọi là phần mềm của máy tính. Tuỳ theo mục đích của người sử dụng mà chọn phần mềm tương ứng, đây là phần linh hoạt nhất của máy tính và mang nhiều dấu ấn đặc trưng của con người. Cuối những năm 80, đầu những năm 90 là thời kỳ bùng nổ của Cách mạng Viễn thông truyền dữ liệu trên cơ sở kỹ thuật cáp quang, z 6 vệ tinh và vi ba số tạo khả năng thiết lập hệ thống siêu xa lộ thông tin, góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin làm nền móng cho một xã hội thông tin.
Internet là một danh từ riêng dùng để chỉ hệ thống các mạng máy tính toàn cầu, mạng của các mạng, giúp cho người sử dụng ở bất kỳ máy tính nào cũng có thể truy cập tới thông tin tại các máy tính khác và có thể đối thoại trực tiếp với người sử dụng trên đó. Có thể nói, internet đã và đang làm thay đổi rất nhiều trong hoạt động thường nhật của người dân cũng như các công tác của các tổ chức lớn, nhỏ. Internet giờ đây là một phương tiện phổ biến giúp hàng trăm triệu người trên toàn thế giới có thể kết nối với nhau. Về cơ sở vật chất, internet sử dụng một phần hệ thống mạng thông tin viễn thông công cộng.
Về mặt công nghệ, internet sử dụng giao thức có tên là TCP/IP là giao thức điều khiển truyền thông. Để thích ứng, các mạng nội bộ và mạng bên ngoài cũng sử dụng giao thức này. Lúc mới bắt đầu có 4 dịch vụ internet gồm : thư điện tử, truy cập cơ sở dữ liệu, truyền tệp dữ liệu, truy nhập từ xa. Đến nay internet Việt Nam trở nên đa dạng hình thức và số lượng.
ADSL,VoIP,Wifi, Internet công cộng và các dịch vụ gia tăng trên mạng khác như : video, forum, chat, game online… Internet có tính hấp dẫn ở mức độ nhất định khiến đầu tư vào lĩnh vực này được nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước đã tham gia ở những hình thức, phương pháp khác nhau như : khai thác dịch vụ đầu cuối, dịch vụ ứng dụng trên mạng, dịch vụ truy nhập internet tốc độ cao. Đối với người sử dụng internet, thư điện tử (email) đã thực sự thay đổi dịch vụ thư tín truyền thống. Đó là ứng dụng rất phổ biến trên mạng hiện nay. Người dùng có thể đối thoại với người sử dụng khác trên mạng và đối thoại có âm thanh và hình ảnh thông qua những thiết bị ngoại vi tân tiến.
Dịch vụ được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất trên internet là World Wide Web viết tắt là WWW, đây là kỹ thuật truyền tin siêu văn bản và là một phương thức tham khảo chéo được sử dụng rộng rãi để truyền tin trên mạng. Khi vào trang Web ta có thể tìm kiếm được thông tin khác nhau và khối lượng thông tin rất lớn, bao gồm tất cả các thể loại tin từ tin tức kinh tế, xã hội, đến các lĩnh vực y tế, âm nhạc, thể thao, phim truyện,…. z 7 Thương mại điện tử (TMĐT) Thuật ngữ TMĐT đã được khá nhiều học giả và các tổ chức nghiên cứu xây dựng. Hiểu theo nghĩa rộng là việc tiến hành kinh doanh thông qua internet, bán hàng hoá và dịch vụ với phương thức giao nhận sử dụng nhân công cũng sử dụng phương thức trực tuyến bằng các công nghệ số hóa như phần mềm máy tính.
Một định nghĩa mô tả Thương mại điện tử là “ Sử dụng các phương pháp và thủ tục điện tử để tiến hành toàn bộ các hoạt động kinh doanh bao gồm cả các hoạt động quản lý điều hành”. Uỷ ban Liên Hiệp quốc về Luật Thương mại Quốc tế định nghĩa TMĐT là “ Các hoạt động thương mại sử dụng một thông điệp số liệu để tiến hành, giao chuyển, nhận hoặc lưu chứa bằng các công cụ điện tử, quang hoặc các công cụ tương tự bao gồm song không giới hạn như trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, telex hoặc telecopy”. TMĐT có thể được phân thành ba loại quan hệ: Quan hệ giữa thành phần kinh doanh với thành phần kinh doanh (B2B), quan hệ giữa thành phần kinh doanh với người tiêu dùng (B2C) và quan hệ giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng(C2C). Internet cũng chứa đựng những băng tần rộng hơn của các hoạt động thương mại tiềm năng và các hoạt động trao đổi thông tin.
Nó tạo ra cho các công ty, các cá nhân và các chính phủ một cơ sở hạ tầng điện tử, cho phép thiết lập các thị trường bán đấu giá ảo về hàng hoá và dịch vụ. Các chính phủ ở một số quốc gia phát triển và đang phát triển đã tiến hành tái tổ chức lại việc quản lý điều hành các hệ thống mua bán công cộng, tương đương với mức 10% tổng GDP trên internet, mở ra một triển vọng mới các quan hệ giao dịch có quy mô lớn trong quan hệ giữa thành phần kinh doanh với Chính phủ(B2C). Công nghệ cũng đang được các chính phủ sử dụng để chuyển tải hoặc nhận các thông tin (G2B,G2C) nhằm nâng cao tính chất thuận tiện và giảm bớt chi phí của các hệ thống thanh toán và nộp thuế(C2G). Các nhà kinh doanh sử dụng công nghệ để quản trị các dịch vụ sau bán hàng và phát triển các thị trường tiêu dùng trực tiếp.
Cơ sở hạ tầng mạng lưới như viễn thông, vô tuyến, truyền hình cáp , internet và các mạng dùng riêng intranet được sử dụng để thực hiện các giao dịch thương mại điện tử. Mối quan tâm tập trung hiện thời là thương mại điện tử trên nền internet. Một hoạt động thương mại điện tử, thường liên quan đến các bước liệt kê dưới đây tạo ra một dải đa dạng lớn về các dịch vụ cung cấp : z 8 - Khách hàng ngồi trước màn hình máy tính cá nhân hoặc các phương tiện truy cập khác. - Tiến hành truy cập vào trang web với các thông tin quang bá (dịch vụ quảng cáo).
- Truy cập vào internet (dịch vụ thông tin). - Đặt hàng một sản phẩm (dịch vụ phân phối) và thanh toán cho sản phẩm đó(dịch vụ tài chính). - Tải về các sản phẩm, nếu nó có thể sử dụng công nghệ số, hoặc sẽ được gửi qua đường thư (dịch vụ giao nhận). Thương mại điện tử mang lại lợi ích to lớn là thời gian giao dịch nhanh với chi phí thấp .