CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tổng quan về thu NSNN 1. Khái niệm, đặc điểm của thu NSNN 1. Khái niệm của thu NSNN a.
Khái niệm Ngân sách Nhà nước - Theo Luật NSNN 2015 (có hiệu lực từ 01/01/2017): Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Khái niệm thu NSNN Thu NSNN là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước.
Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các 3 nhu cầu chi tiêu của mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Đặc điểm thu NSNN - Thu NSNN mang tính cưỡng chế, tính pháp lý cao.
- Tạo lập và sử dụng NSNN gắn liền quyền lực với việc thực hiện các chức năng của nhà nước, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các quỹ tài chính khác. Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chi NSNN mang tính cấp phát ”không hoàn trả trực tiếp”. Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội nhà nước đã sử dụng để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà nước với tư cách là một chủ thể. - NSNN luôn gắn chặt với nhà nước chứa đựng lợi ích chung và công, hoạt động thu chi NSNN là thể hiện các mặt kinh tế - xã hội của nhà nước, giữa nhà nước và xã hội thể hiện qua các khoản cấp phát từ NSNN cho các mục đích tiêu dùng và đầu tư.
Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội do đó thể hiện ở phạm vi rộng lớn. - Cũng như các quỹ tiền tệ khác NSNN cũng có đặc điểm riêng của một quỹ tiền tệ, NSNN là quỹ tập trung lớn nhất của nhà nước, là nguồn tài chính nên NSNN là giá trị thặng dư của xã hội do đó nó mang đặc điểm khác biệt. - Hoạt động thu của NSNN được thể hiện theo nguyên tắc không hoàn lại trực tiếp. Vai trò của thu NSNN Thu NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước và nền kinh tế - xã hội, cụ thể: - Thu NSNN bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Vì NSNN được xem là quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của Nhà nước và được dùng để giải quyết những nhu cầu chung của Nhà nước về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã 4 hội, hành chính, an ninh và quốc phòng. - Thông qua thu NSNN, Nhà nước thực hiện việc quản ý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn. - Thu NSNN còn đóng vai trò quan trọng trong vấn đề điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội. Thông qua công cụ thuế, Nhà nước đánh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hoặc đánh thuế cao hoặc đánh thuế cao đối với có thu nhập cao.
Phạm vi thu NSNN Theo Luật Ngân sách số 83/2015/QH13, thu NSNN gồm: - Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; - Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; - Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Những vấn đề cơ bản về tính bền vững của thu NSNN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 1. Quan niệm về tính bền vững NSNN 1. Khái quát về tính bền vững NSNN Thể chế kinh tế và môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện về nhiều mặt theo hướng mở rộng tự do hóa thương mại và đầu tư, phù hợp với các cam kết của nước ta với WTO cũng như các cam kết đa phương và song phương.
Khi nghiên cứu về BVNS, các chính sách thu, chi tài chính và nợ công sẽ được xem xét chi tiết. Nếu chúng không gây hậu quả tiêu cực, không gây mất an toàn tài chính - tiền tệ trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thì ngân sách được coi là bền vững. 5 Do vậy, BVNS được định nghĩa là “tình trạng một ngân sách luôn có khả năng cung cấp cho Nhà nước những công cụ tài chính khả dụng; trong bất kỳ tình huống nào, thu, chi và nợ NSNN đều được Nhà nước kiểm soát một cách chủ động; trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều không đẩy Nhà nước vào tình trạng vỡ nợ, mất ổn định, mất an toàn tài chính”. Khi ngân sách đạt tới sự bền vững thì các chính sách thu, chi NSNN tiến triển ổn định, an toàn, vững mạnh, không chứa đựng nguy cơ xảy ra mất cân đối nghiêm trọng, không dẫn đến đổ vỡ hoặc khủng hoảng ngân sách.
Dưới góc độ tài chính, BVNS cho phép mang lại những nguồn thu, nhất là những nguồn thu từ thuế đối với các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế, một cách ổn định và có thể ngày càng tăng, có khả năng đáp ứng được các nhu cầu chi một cách thuận lợi, tạo đủ nguồn cho Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. BVNS không phải luôn ở trạng thái tĩnh, không thay đổi theo thời gian và không gian. Tùy theo từng quốc gia, từng thời kỳ, phụ thuộc hoàn cảnh kinh tế- chính trị-xã hội cụ thể. Do đó, sẽ không có những tiêu chí hoặc ngưỡng cố định về BVNS dùng chung cho tất cả các nước, cho mọi thời kỳ.
BVNS không đề cập đến việc ngân sách không có bội chi. Một ngân sách được xem là bền vững cũng không nhất thiết phải hoàn toàn không có bội chi trong những chừng mực nhất định về cả quy mô và thời gian. BVNS có ý nghĩa quan trọng, chiếm vị trí then chốt bảo đảm sự bền vững và an ninh của khu vực tài chính công và kéo theo đó là sự bền vững của cả nền kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, BVNS cũng lại phụ thuộc vào sự ổn định, bền vững nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế và phụ thuộc vào các yếu tố cấu thành thu và chi NSNN.
Các yếu tố cấu thành và chi phối BVNS gồm chính sách thu, chi ngân sách, quản lý nợ công và quản lý các rủi ro tiềm ẩn có khả năng tác động đến BVNS (các quỹ ngoài ngân sách; nợ khu vực DNNN; bảo lãnh của Chính phủ; chi tiêu và nợ tại các địa phương; mức độ ổn định của hệ thống tài chính trong 6 nước và khu vực; mức độ bền vững tăng trưởng kinh tế. Trong đó, thu, chi, nợ ngân sách không chỉ được xem xét về mặt quy mô hay những tỷ lệ (kết cấu, tỷ trọng) mà còn phải quan tâm đến chính sách thu, chính sách chi, chính sách nợ, chính sách của Nhà nước đối với khu vực DNNN, chính sách an sinh xã hội. Nói chung là các chính sách tài chính công mà các Chính phủ đã, đang và sẽ thi hành. Các chính sách tài chính công chính là những yếu tố định tính quy định sự bền vững của NSNN.
Những biểu hiển của bền vững NSNN Thuật ngữ BVNS không chỉ chứa đựng nghĩa gốc là “khả năng thực hiện được các nghĩa vụ tài chính theo cam kết của Chính phủ”, gần đây BVNS đã được mở rộng ra một phạm rộng lớn hơn so với việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính. Định hướng và mối quan tâm dài hạn cũng đã làm thay đổi cách nhìn của các Chính phủ và các tổ chức quốc tế về BVNS. BVNS còn có liên quan các điều kiện tài khóa mà chúng có thể là rào cản tăng trưởng kinh tế trong tương lai, làm gia tăng gánh nặng thuế, làm dịch chuyển nghĩa vụ thuế sang những người nộp thuế trong tương lai. Nhiều nghĩa vụ tài chính của Chính phủ chỉ phát sinh trong tương lai (các khoản nợ dài hạn đáo hạn trong tương lai) nhưng lại không được thể hiện trong các chỉ tiêu ngân sách và cân đối ngân sách hiện hành.
Các thế hệ công dân trong tương lai sẽ phải chịu nhiều bất lợi khi các nghĩa vụ nợ của Chính phủ đến lúc đó mới phát sinh. Vì thế, khái niệm BVNS đã được mở rộng hơn. BVNS nghĩa là một Chính phủ có trách nhiệm phải không được đưa ra các chính sách nếu các chính sách phương hại hay có tác động bất lợi đến đất nước sau một vài thập niên trong tương lai. Với cách tiếp cận này, tiêu chí xác định BVNS bao hàm các nội dung quan trọng, có quan hệ hữu cơ, kết gắn với nhau gồm: Khả năng thanh toán; Tính thanh khoản; Tính dễ bị tổn thương; 7 Bảo đảm tăng trưởng bền vững; Tính ổn định; Tính công bằng.