Mở đầu Trình bày lý do thực hiện đề tài, mục tiêu đề tài và các ý nghĩa thực tiễn của đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực trạng năng suất lao động tại Việt Nam Trong chương này sẽ trình bày một cách tổng quan cơ sở lý thuyết đã áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài để đạt được các mục tiêu đề ra. 4 - Chương 3: Phương pháp thực hiện Trong chương này trình bày tổng quát cách thức thực hiện đề tài, phương pháp nghiên cứu để thu thập thông tin, số liệu nhằm đánh giá kết quả thực hiện so với mục tiêu đặt ra. - Chương 4: Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất và các giải pháp cải thiện Trong chương này trình bày hai vấn đề trọng tâm: Thực trạng bộ phận sản xuất, bao gồm các vấn đề nguồn lực, kết quả hoạt động kinh doanh và các mục tiêu đặt ra.
Chi tiết áp dụng các giải pháp vào thực tế bộ phận sản xuất để cải thiện năng suất lao động hiện tại. - Chương 5: Kết quả thực hiện - Chương 6: Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 2. CÁC ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM 2. Năng Suất Hiện nay, định nghĩa về năng suất được coi là có cơ sở khoa học và hoàn chỉnh nhất là định nghĩa do Ủy ban Năng suất thuộc Hội đồng năng suất chi nhánh Châu Âu đưa ra trong một cuộc họp tại Rome năm 1959, được các nước thừa nhận và áp dụng: “Trước hết, năng suất là một trạng thái tư duy.
Đó là phong cách tìm kiếm sự cải thiện không ngừng những gì đang tồn tại; đó là sự khẳng định rằng người ta có thể làm cho ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua, ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay; hơn thế nữa, nó đòi hỏi những nổ lực không ngừng để thích ứng các hoạt động kinh tế với các điều kiện luôn thay đổi và việc áp dụng các lý thuyết và phương pháp mới; nó là niềm tin vững chắc về sự tiến bộ của nhân loại”. Năng suất phản ánh đồng thời tính hiệu lực, hiệu quả, đổi mới của quá trình và chất lượng sống ở mọi cấp độ. Năng suất trở thành công cụ quản lý và là thước đo của sự phát triển. Năng suất nhấn mạnh vào việc giảm lãng phí (chứ không phải là giảm đầu vào), là làm việc thông minh hơn (chứ không phải vất vả hơn), trong đó nguồn nhân lực và khả năng tư duy của lao động đóng vai trò quan trọng nhất.
Tăng năng suất đồng nghĩa với việc đổi mới và cải tiến liên tục, là quan tâm nhiều hơn đến kết quả đầu ra chứ không chỉ quan tâm đến hiệu quả sử dụng đầu vào. Việc Tạo Ra Giá Trị Và Sự Lãng Phí Các hoạt động tạo ra giá trị tăng thêm (Value-added activities): là các hoạt động chuyển hóa vật tư trở thành đúng sản phẩm mà khách hàng yêu cầu. Các hoạt động không tạo ra giá trị tăng thêm (Non value-added activities): là các hoạt động không cần thiết cho việc chuyển hóa vật tư thành sản phẩm mà khách hàng yêu cầu. Một quá trình gia tăng giá trị bằng việc sản xuất ra các sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ mà khách hàng chấp nhận trả tiền.
Quá trình này tiêu tốn tài nguyên và lãng phí được sinh ra khi mà tài nguyên được sử dụng lớn hơn mức cần thiết để sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng thực tế cần. Quan điểm và công cụ của TPS giúp nâng cao nhận thức và đưa ra các quan điểm mới về xác định lãng phí và thông qua đó khai thác các cơ hội để giảm lãng phí. Bảy loại lãng phí trong sản xuất tinh gọn (Lean), bao gồm: Sản xuất thừa - Over Production; Khuyết tật – Defect; Tồn kho – Inventory; Vận chuyển - Transportation; Chờ đợi - Waiting; Thao tác - Motion; Xử lý thừa – Over processing. Các Lý Thuyết Liên Quan 2.
Lý Thuyết Về Năng Suất 2. Khái Quát Về Đo Lường Năng Suất Thực hiện cải tiến năng suất, yêu cầu đầu tiên là phải đo lường và đánh giá năng suất. Đây là cơ hội cho phép cung cấp một cơ sở dữ liệu giúp hoạch định, giám sát, đo lường và đánh giá, so sánh kết quả để có thể liên tục cải tiến. Các đặt tính của đo lường năng suất: - Tính hiệu lực: đo lường tính hiệu lực sẽ phản ánh chính xác những thay đổi trong năng suất thực tế.
- Khả năng bao quát: càng tận dụng được tối đa đầu vào để sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ bao nhiêu, số lượng đầu vào sẽ được tính toán chính xác bấy nhiêu. - Có thể so sánh được: để so sánh chỉ số đo lường, chúng cần phải được quy về một mẫu số chung. - Tính hoàn thiện: mỗi yếu tố đầu vào phải được gắn với một phép đo. - Tính hữu ích: việc đo lường phải thiết thực và hữu ích, hướng tới một hoạt động có hiệu quả.
- Khả năng tương thích: bất kỳ lúc nào có thể, cần phải chuẩn bị sẵn nguồn dữ liệu phục vụ cho công tác đo lường từ những hệ thống thông tin quản lý có 7 sẵn. - Tính hiệu quả của chi phí: những lợi ích đạt được từ công tác đo lường cần phải vượt lên trên cả chi phí lẫn việc thu thập dữ liệu. Yêu cầu chung về số liệu: Cần có cùng phạm vi tính toán và số liệu của nhiều năm. Để có được các chỉ số cần phải thống kê đầy đủ, liên tục và đều đặn.
Các Hình Thức Biểu Hiện Của Năng Suất a. Mức năng suất (P): Là chỉ tiêu cơ bản để đo kết quả đầu ra được tạo ra từ một số đơn vị đầu vào, nó biểu hiện quan hệ thương số giữa đầu ra (Q) và đầu vào (T): P= Chỉ tiêu mức năng suất cho ta biết kết quả sản xuất được tạo ra từ 01 đơn vị đầu vào là bao nhiêu, cao hay thấp khi đem so sánh với kỳ trước hoặc so sánh đơn vị này với đơn vị khác. Chỉ tiêu năng suất có giá trị luôn dương (P>0). Mức tăng năng suất (∆P): Là mức tăng năng suất của kỳ báo cáo (P1) và mức năng suất của kỳ gốc (P0): ∆P = P1 - P0 Chỉ tiêu mức tăng năng suất nói lên mức độ tăng giảm tuyệt đối của mức năng suất kỳ báo cáo so với kỳ gốc là bao nhiêu đơn vị, chỉ tiêu này có thể >0, <0 hoặc = 0.
Tốc độ phát triển năng suất (Ip): Hay còn gọi là chỉ số phát triển năng suất, là quan hệ thương số giữa mức năng suất kỳ báo cáo P1 và mức tăng năng suất kỳ gốc P0: Ip = Chỉ tiêu này luôn luôn dương. Tốc độ phát triển năng suất cho biết kỳ báo cáo so với kỳ gốc năng suất bằng bao nhiêu lần hoặc bằng bao nhiêu phần trăm. Công thức chung tính năng suất: Năng suất được định nghĩa là tỷ số đầu vào và đầu ra, được biểu thị bằng công thức: Đầ à Năng suất = Đầ Tùy vào mục tiêu phân tích mà có thể sử dụng các yếu tố đầu ra và đầu vào khác nhau. 8 Đầu ra có thể sử dụng dưới dạng: doanh thu; giá trị gia tăng; tổng sản lượng; … Đầu vào có thể tính bằng 1 hoặc nhiều yếu tố: lao động (số lượng lao động, giờ công, tiền công); vốn; tổng đầu vào; … 2.
Các Loại Lãng Phí Trong Sản Xuất Theo triết lý Sản xuất tinh gọn (Lean), có 7 loại lãng phí tồn tại trong quá trình sản xuất, bao gồm: a. Sản xuất dư thừa (Over production): Là sản xuất nhiều hơn hay quá sớm hơn những gì được yêu cầu một cách không cần thiết. Việc này làm gia tăng rủi ro sự lỗi thời của sản phẩm, tăng rủi ro về sản xuất sai chủng loại của sản phẩm và có nhiều khả năng phải bán đi các sản phẩm này với giá chiết khấu hay bỏ đi dưới dạng phế liệu. Tuy nhiên trong một số trường hợp thì lượng bán thành phẩm hay thành phẩm phụ trội được duy trì một cách chủ ý kể cả trong những quy trình sản xuất được áp dụng Lean.
Khuyết tật (Defect): Bên cạnh những khuyết tật về mặt vật lý trực tiếp làm tăng chi phí bán hàng, khuyết tật cũng bao gồm các sai sót về giấy tờ, cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm, giao hàng trễ, sản xuất sai quy cách, sử dụng quá nhiều nguyên vật liệu hay tạo ra phế liệu không cần thiết. Tồn kho (Inventory): Lãng phí về tồn kho nghĩa là dự trữ quá mức cần thiết về nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Lượng tồn kho phụ trội dẫn đến chi phí tài chính cao hơn về tồn kho, chi phí bảo quản cao hơn và tỷ lệ khuyết tật cao hơn. Di chuyển (Transportation): Là bất kỳ sự chuyển động nguyên vật liệu nào không tạo ra giá trị tăng thêm cho sản phẩm.
Việc di chuyển giữa các công đoạn xử lý làm kéo dài thời gian chu kỳ sản xuất, dẫn đến việc sử dụng lao động và mặt bằng kém hiệu quả, có thể gây nên những đình trệ trong sản xuất. Chờ đợi (Waiting): Là thời gian công nhân hay máy móc nhàn rỗi bởi sự tắt nghẽn hay luồng sản xuất trong xưởng thiếu hiệu quả. Thời gian trì hoãn giữa mỗi đợt gia công chế biến sản phẩm cũng được tính đến. Việc chờ đợi làm tăng thêm chi phí đáng kể do chi phí nhân công và khấu hao trên từng đơn vị sản lượng tăng lên.
Thao tác (Motion): Bất kỳ việc chuyển động tay chân hay việc đi lại không cần 9 thiết của các công nhân không gắn liền với việc gia công sản phẩm. Gia công thừa (Over processing): Là tiến hành nhiều công việc gia công hơn mức khách hàng yêu cầu dưới hình thức chất lượng hay công năng của sản phẩm. Ngoài ra, lãng phí nguồn nhân lực cũng thường được đề cập trong các lý thuyết cải tiến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhân công trực tiếp làm việc với quy trình, nắm rõ quy trình nhất cần được huấn luyện và cho phép họ được đề xuất ý kiến cải tiến quy trình.
Các công cụ, giải pháp chính được triển khai khi thực hiện đề tài 2. Nhóm công cụ về quản lý a. Lý thuyết về lãnh đạo dựa trên giá trị: Lãnh đạo dựa trên giá trị dựa trên các quan điểm về lãnh đạo phục vụ, lãnh đạo đầy tớ, được Robert K. Greenleaf đề cập trong nhiều bài viết, tác phẩm liên quan đến quản lý, giáo dục, tư vấn.
Đặc trưng của mô hình lãnh đạo dựa trên giá trị là sự cam kết phục vụ, đáp ứng nhu cầu của người khác.