Chương 1 trình bày khái quát về năng lực cạnh tranh, cách đánh giá năng lực cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp, cùng với những hiểu biết cơ bản về sản phẩm Mobile Banking. Những lý thuyết trình bày trong chương này sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ Mobile Banking Vietcombank trong giai đoạn hiện nay.1 Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh sản phẩm 1.1 Khái niệm Khái niệm năng lực cạnh tranh xuất hiện khi các nhà kinh tế học tiến hành nghiên cứu về cạnh tranh. Chính vì vậy, để hiểu rõ về năng lực cạnh tranh sản phẩm thì chúng ta nên hiểu khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.1 Cạnh tranh Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, trong luận văn này thuật ngữ “cạnh tranh” được tiếp cận dưới góc độ lĩnh vực kinh tế. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về cạnh tranh cũng như phạm vi và cấp độ là khác nhau.
Song nhìn chung các khái niệm đều có nét tương đồng về nội dung: Xét theo hướng tiếp cận của đề tài này, tác giả lựa chọn khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quan hệ cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”(Chu Văn Cấp, 2003). 7 Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội rất phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có những quan điểm cạnh tranh khác nhau.
Nhưng dù đứng ở góc độ nào thì các nhà kinh tế học đều phải thừa nhận cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, hay nói cách khác nền kinh tế thị trường chính là động lực của cạnh tranh. Nhưng chúng ta phải thấy rằng, cạnh tranh cũng có mặt trái: Cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới nhiều hậu quả tiêu cực gây rối loạn thị trường, thiệt hại cho người tiêu dùng và những doanh nghiệp sản xuất chính đáng; cạnh tranh cũng có thể dẫn đến xu hướng độc quyền, làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo và những bất công trong xã hội… Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo cơ chế cạnh tranh vận hành hiệu quả, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của cạnh tranh. Điều đó cần đến sự điều tiết hợp lý của Nhà nước trong chính sách cạnh tranh và đó cũng là trách nhiệm của tất cả các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Năng lực cạnh tranh Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường.
Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó, một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, được gọi là năng lực cạnh tranh. Bên cạnh khái niệm năng lực cạnh tranh, người ta còn sử dụng các khái niệm sức cạnh tranh, tính cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh. Mặc dù các thuật ngữ này có thể mang sắc thái khác nhau và không đồng nhất trong những trường hợp cụ thể nào đó, nhưng các thuật ngữ đó đều được dịch ra từ một thuật ngữ tiếng Anh là “competitiveness“. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về năng lực cạnh tranh cố gắng kết hợp cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế“ (Bạch Thụ Cường, 2002) 8 Như ta biết, môi trường cạnh tranh hiện nay là môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, tức là vừa có cạnh tranh, vừa có độc quyền, vừa cạnh tranh vừa hợp tác cả ở thị trường trong nước lẫn thị trường quốc tế.
Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn về năng lực cạnh tranh là điều vô cùng cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của các chủ thể.3 Năng lực cạnh tranh sản phẩm Năng lực cạnh tranh có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau dẫn đến sự phân chia năng lực cạnh tranh cũng có đôi chút khác biệt. Theo cách phân chia phổ biến nhất thì năng lực cạnh tranh bao gồm: - Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia - Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Ngoài ba cấp độ trên, có nhà nghiên cứu cũng đề cập đến năng lực cạnh tranh cấp ngành. Thực chất, năng lực cạnh tranh cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng từ năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nên tác giả không đề cập đến.
Việc hiểu thế nào cho đúng về khái niệm các cấp độ năng lực cạnh tranh cũng gây ra rất nhiều tranh cãi. Song nhìn chung chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng của sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng thị trường. Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp của mình.
Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng quốc gia đó nâng cao mức sống cho người dân với tốc độ cao và bền vững, được thể hiện qua chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia. Yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia là môi 9 trường kinh tế vĩ mô, nền tảng kinh tế vĩ mô, trình độ hoạt động của các doanh nghiệp, chất lượng môi trường kinh doanh và năng suất sản xuất quốc gia. Từ cái nhìn khái quát về ba cấp độ của năng lực cạnh tranh ta cũng có thể nhận ra được mối quan hệ của chúng. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia cao hay thấp là dựa phần lớn vào trình độ hoạt động của các doanh nghiệp.
Theo Michael Porter, ở cấp độ quốc gia khái niệm năng lực cạnh tranh duy nhất có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia. Vì vậy muốn nâng cao năng suất liên tục thì mọi doanh nghiệp, mọi ngành nghề của nền kinh tế phải liên tục cải tiến, liên tục nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Ngược lại, một quốc gia có năng lực cạnh tranh tức là quốc gia đó đã đảm bảo được những điều kiện tốt nhất cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: môi trường kinh doanh thuận lợi ổn định; chính sách vĩ mô rõ ràng nhất quán; kết cấu hạ tầng, lao động, khoa học và công nghệ,.đều phải đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp. Mặt khác năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lại được thể hiện qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh.
Một doanh nghiệp có thể có nhiều mặt hàng với những năng lực cạnh tranh cao thấp khác nhau. Nhưng nếu có nhiều mặt hàng có năng lực cạnh tranh cao thì tất yếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được nâng cao hơn nhiều. Vì khi đó doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường, giành được ưu thế các đối thủ cạnh tranh. Như vậy rõ ràng ba cấp độ của năng lực có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chúng có quan hệ mật thiết nhưng cũng có sự độc lập tương đối, không hoàn toàn là cái này cấu thành nên cái kia. Do vậy khi nghiên cứu tìm hiểu về bất kỳ năng lực cạnh tranh ở cấp độ nào cũng không được bỏ qua mối quan hệ của nó với các cấp độ khác của năng lực cạnh tranh.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việc lựa chọn tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh cũng có sự khác nhau tùy vào loại sản phẩm và phương pháp nghiên cứu. Kế thừa kết quả công trình nghiên cứu “Phương pháp phản ánh và phân tích về năng lực cạnh tranh” của PGS. Nguyễn Trần Quế (2006) tác giả đã đưa ra bộ chỉ tiêu để phân tích đánh giá cùng 10 với những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm cho luận văn của mình.1 Thị phần Thị phần của sản phẩm là phần thị trường mà sản phẩm chiếm lĩnh, là chỉ số thể hiện quy mô của sản phẩm, cho thấy sản phẩm có vị thế cạnh tranh như thế nào trên thị trường.
Một điều tất yếu là sản phẩm càng có năng lực cạnh tranh thì càng được tiêu thụ nhiều, doanh thu lớn và thị phần tăng. Thị phần thường được tính theo công thức sau: Lượng hàng hoá (hoặc doanh thu) tiêu thụ của doanh nghiệp Thị phần = x 100% Tổng lượng hàng hoá (hoặc doanh thu) tiêu thụ trên thị trường Có thể khẳng định thị phần là biểu hiện cụ thể, đáng tin, lượng hoá được về năng lực cạnh tranh của sản phẩm.2 Giá cả Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định thị phần của sản phẩm và khả năng sinh lời. Đồng thời giá cả còn là một công cụ linh hoạt nhất, mềm dẻo nhất trong cạnh tranh. Giá của sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua thỏa thuận giữa người bán và người mua.
Nó đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không của khách hàng.Trong bối cảnh hiện nay, khi khoa học kỹ thuật đã phát triển với trình độ cao thì chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp gần như tương đương nhau. Và khi đó giá cả lại là yếu tố hấp dẫn khách hàng. Mặt khác, khi thu nhập của đại bộ phận dân cư đều tăng, khoa học kĩ thuật phát triển thì việc doanh nghiệp định giá thấp chưa phải là biện pháp hữu hiệu, đôi khi còn bị đánh đồng với việc suy giảm chất lượng.