Chương 1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 1.1 Khái quát về Marketing trực tuyến 1.1 Khái niệm Marketing trực tuyến Trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay việc khách hàng sử dụng internet để tìm kiếm thông tin đang ngày càng phổ biến hơn bởi tính thuận tiện và nhiều lợi ích nó mang lại. Và cũng chính từ đó hình thành nên một khái niệm mới, một kênh Marketing mới đó là Marketing Online. Cụm từ “Marketing trực tuyến” (hay còn nhiều cách gọi khác như E-Marketing, Marketing online, tiếp thị trực tuyến…) không còn quá xa lạ, có nhiều định nghĩa khác nhau về Marketing trực tuyến như: “E-marketing là hoạt động Marketing cho sản phẩm và dịch vụ bằng cách sử dụng các công cụ sẵn có của mạng internet để tiếp cận người sử dụng internet” (Jones & Ryan, 2009).
Marketing trực tuyến kết hợp tính sáng tạo và kỹ thuật của Internet, bao gồm thiết kế, phát triển, quảng cáo và bán hàng. Nó bao gồm các hình thức như tiếp thị qua công cụ tìm kiếm (search engine marketing - SEM), tiếp thị hiển thị (display marketing), tiếp thị qua mạng xã hội (social media marketing), tiếp thị nội dung (content marketing), tiếp thị qua thư điện tử (e-mail marketing), tiếp thị liên kết (affiliate marketing), v. Ngoài ra hiện nay, hình thức tiếp thị di động (mobile marketing) đang phát triển mạnh mẽ nhờ sự xuất hiện và phổ biến của thiết bị di động thông minh. Marketing trực tuyến gắn với mạng Internet và có phạm vi hẹp hơn Marketing số (Digital marketing).
Chẳng hạn, tin nhắn quảng cáo SMS thuộc tiếp thị số nhưng không phải là tiếp thị trực tuyến. Tuy nhiên, ở Việt Nam hai khái niệm này đôi khi bị hiểu nhầm là giống nhau. Online Marketing được dịch ra như: marketing trực tuyến, tiếp thị trực tuyến, tiếp thị điện tử…nhưng về bản chất chúng ta hiểu Online marketing là tiếp thị sản phẩm, 6 dịch vụ thông qua môi trường internet. Nhằm mục đích khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ đó và trung thành với nó.
Một vài định nghĩa khác “Online Marketing là marketing ở trong môi trường kết nối Internet và sử dụng nó để kết nối thị trường” (Stokes, 2009) “Marketing trực tuyến là việc đạt được các mục tiêu marketing nhờ việc sử dụng công nghệ truyền thông điện tử trên môi trường internet” (Dave Chaffey, 2006) “Marketing trực tuyến là quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân dựa trên các phương tiện điện tử và internet…” (Philip Kotler, 2007). Đây là khái niệm được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Nó đề cập đến các hoạt động Marketing 4P (Sản phẩm – Product, Giá – Price, Kênh phân phối –Place, Xúc tiến – Promotion) được sử dụng qua phương tiện truyền thông trực tuyến nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về Marketing trực tuyến nhưng đều có đặc điểm chung là các hoạt động Marketing được thực hiện trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, internet nhằm đạt được mục tiêu chiến lược Marketing của doanh nghiệp.
Việc sử dụng công nghệ thông tin, internet sẽ mang đến nhiều lợi thế hơn cho doanh nghiệp và là cơ hội để doanh nghiệp đưa chiến dịch Marketing tiếp cận với nhiều khách hàng hơn.2 Đặc điểm Marketing trực tuyến Marketing trực tuyến hoạt động trên nền tảng internet vì vậy nó có nhiều đặc điểm khác biệt với Marketing truyền thống. Tốc độ: Ưu thế của marketing trực tuyến so với marketing truyền thống là tốc độ lan truyền thông điệp được truyền tải một cách nhanh chóng. Không giới hạn về không gian: Marketing trực tuyến không chịu ảnh hưởng của bất kỳ ranh giới về mặt địa lý nào. Tính liên tục: Marketing trực tuyến có khả năng hoạt động mọi thời điểm trong mọi khoảng thời gian.
7 Tương tác 2 chiều: Marketing trực tuyến cho phép truyền thông và tương tác hai chiều. Nó hoàn toàn làm thay đổi quá trình tương tác giữa các bên giao tiếp, cho phép cả hai bên xây dựng mối quan hệ với nhau, điều này không có trong marketing truyền thống. Phương tiện truyền thông đa dạng: không chỉ dừng lại ở các hình thức như hình ảnh, chữ viết âm thanh, marketing trực tuyến còn tạo ra nhiều hình thức để truyền tải thông điệp hơn và tạo tính tương tác với người dùng như các diễn đàn, các chương trình trò chơi trực tuyến, các hoạt động mang tính tương tác cao giữa thông điệp truyền thông và người dùng. Với những đặc điểm ấy, Marketing trực tuyến có rất nhiều thế mạnh hơn Marketing truyền thống: như chi phí thấp, thời gian nhanh, hiệu quả cao vì thông điệp sẽ dễ dàng được đối tượng mục tiêu đón nhận hơn.
Bên cạnh đó việc đánh giá hiệu quả sẽ dễ dàng đo lường chính xác hơn qua các công cụ đánh giá có sẵn đến từ các nhà cung cấp dịch vụ.3 Các công cụ Marketing trực tuyến Website Website (Tạm dịch trang mạng), còn gọi là trang web, là một tập hợp trang web, thường chỉ nằm trong một tên miền hoặc tên miền phụ trên World Wide Web của Internet. Một trang web là tập tin HTML hoặc XHTML có thể truy nhập dùng giao thức HTTP. Trang mạng có thể được xây dựng từ các tệp tin HTML (trang mạng tĩnh) hoặc vận hành bằng các CMS chạy trên máy chủ (trang mạng động). Trang mạng có thể được xây dựng bằng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau (PHP,.NET, Java, Ruby on Rails.
Website là nơi giới thiệu những thông tin, hình ảnh, sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp để khách hàng có thể truy cập ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Một Website cấu thành từ 3 yếu tố: Tên miền (domain): tên miền được ví như địa chỉ ngôi nhà, Nơi lưu trữ website (hosting) 8 Nội dung các trang thông tin (Webpage). Đây được xem là công cụ quan trọng nhất trong hoạt động Marketing trực tuyến, chính nơi đây sẽ chứa đựng tất cả thông điệp Marketing một cách chi tiết nhất và là “ đích đến” cuối cùng trong các chiến dịch Marketing. Website là phương tiện đầu tiên và cũng là quan trọng nhất trong các công cụ của Marketing trực tuyến vì Website là trang thông tin chính thống và là nơi cung cấp đầy đủ thông tin nhất về công ty hoặc sản phẩm trong môi trường internet.
Các công cụ khác hầu như đều trỏ đường dẫn về Website nhằm cung cấp thêm thông tin cho đối tượng quan tâm. Website là nơi kết nối giữa khách hàng với doanh nghiệp, biến những người truy cập vào trang web thành khách hàng và những người sử dụng Internet trở thành khách hàng mục tiêu chính của doanh nghiệp. Đồng thời, là nơi để thu thập thông tin khách hàng. Ngoài ra, website được sử dụng như một trang để trưng bày tất cả các sản phẩm cũng như các thông tin chi tiết về sản phẩm, các chế độ hậu mãi và khuyến mãi.
Suy cho cùng “Hoạt động Website Marketing là một loạt các kỹ thuật nhằm nâng cao mức độ phổ biến của website hoặc nhằm quảng cáo cho website” (Morant and Hurt, 2008). Truyền thông mạng xã hội (Social Media Marketing) Truyền thông mạng xã hội là hình thức tiếp thị, quảng cáo dựa trên việc lan truyền thông tin, hình ảnh, video. trên các trang mạng xã hội như: Facebook, Google+, Twiter, Youtube. thông qua tương tác của người dùng như chia sẻ, bình luận.
Đây là một xu hướng tiếp thị mới khác hẳn với truyền thông đại chúng trước đây, và cũng đang mang lại nhiều hiệu quả. Theo Rob Stokes (2008, trang 365): Truyền thông mạng xã hội là hình ảnh thu nhỏ nội dung của một trang web, người dùng có thể tương tác và chia sẻ thông tin. Nó là kết quả của bùng nổ thông tin và các kênh truyền thông qua Internet. Nó cho phép người sử dụng Internet tạo và chia sẻ nội dung dễ dàng và miễn phí đến bất cứ ai thông qua Internet bằng việc dễ dàng tiếp cận lượng người dùng đông đảo từ mạng xã hội.
9 Các loại hình truyền thông mạng xã hội: Tin tức, bài viết: đọc tin, bình luận, bình chọn các bài viết… Chia sẻ: tạo và chia sẻ hình ảnh, video tiêu biểu như các trang Flicrk, Youtube, Snapfish Mạng xã hội: kết nối và chia sẻ tạo cộng đồng trực tuyến: facebook, LinkedIn, MySpace, và Twitter Đánh dấu website: đánh dấu để lưu lại và chia sẻ website với cộng đồng. Trong đó tiêu biểu như Delicious, Faves, StumbleUpon, BlogMarks và Diigo Công cụ tìm kiếm (Search Engine Marketing) Search Engine Marketing viết tắt là SEM, SEM có liên quan nhiều đến marketing trực tuyến. SEM chính là sự tổng hợp của nhiều phương pháp tiếp thị, marketing trực tuyến nhằm mục đích giúp cho trang website đứng ở vị trí mong muốn trong trang kết quả tìm kiếm. Thành phần của SEM gồm: SEO (Search Engine Optimization – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm) Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) là việc thực hiện các biện pháp như đấu giá từ khóa, viết nội dung cho trong web, tăng vị thứ của trang web…nhằm mục đích cuối cùng là đạt được thứ hạng cao nhất có thể trên các trang kết quả của các công cụ tìm kiếm (SEPRs) (Rob Stokes, 2008).
Để tối ưu hóa công cụ tìm kiếm khi tạo trang web người xây dựng cần tính toán đến các yếu tố như cấu trúc trang web như thế nào, cách biên tập và dựa vào nội dung trang web, sự chặt chẽ, kết nối với nhau giữa các trang trong trang web hoặc với các trang liên kết. Banner (bảng, biển) quảng cáo trực tuyến Đây là hình thức quảng cáo dưới dạng tài trợ trên internet. Tác dụng của hình thức quảng cáo này là làm tăng lưu lượng người truy cập vào trang web thông qua việc đăng tải các banner quảng cáo về trang web ngay bên cạnh trong phần tìm kiếm kết quả hoặc chèn hình ảnh banner quảng cáo vào các trang nội dung khác với mục đích thu hút sự chú chú ý và tương tác của người dùng. 10 Theo hình thức này thì các đơn vị đặt quảng cáo sẽ phải chi trả cho bộ máy tìm kiếm một khoản phí.
Chi phí này được tính bằng nhiều cách khác nhau như: CPC (Cost per Click hay PPC Pay per Click đều là một), có nghĩa là doanh nghiệp chỉ phải trả tiền cho mỗi click từ khách hàng tiềm năng của mình, giá tính trên mỗi cú nhấp chuột vào mẫu quảng cáo. CPD (Cost per Duration), tức tính tiền theo thời gian đăng banner. CPM (Cost per Impression), tính tiền dựa trên mỗi 1000 lượt views. CPA (Cost per Action hay PPA Pay per Click) là hình thức nhà quảng cáo trả tiền cho bên đăng quảng cáo dựa trên số lần khách hàng thực hiện một hành động như đăng ký tài khoản, mua hàng, .