Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ 1. Cơ sở lý luận của công tác kiểm tra thuế 1. Khái niệm về công tác kiểm tra thuế “Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội” (Nguồn: Thông tư số 156/2013/TT-BTC). “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng được kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá” (Giáo trình quản lý thuế năm 2008 do Bộ Tài Chính ban hành; tr.411) Qua quan niệm nêu trên có thể hiểu: Kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan thuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế).
- Về mục đích: Tại Điều 77, Luật quản lý thuế quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; Điều 78 quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế; Kiểm tra thuế là nội dung quan trọng của quản lý thuế. Mục đích phát hiện những ngui cơ rủi ro về thuế để ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, từ đó góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân có ý thức trong việc chấp hành pháp luật thuế và hoàn thành tốt nghĩa vụ của người nộp thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. - Về chủ thể: Chủ thể kiểm tra thuế là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, là cơ quan thuế các cấp. - Về đối tượng: Đối tượng kiểm tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước.
- Về nội dung: Kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế. 6 - Về phương pháp: Thường sử dụng các phương pháp phân tích để phát hiện và nhận dạng rủi ro từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp, phân tích theo chiều ngang, phân tích theo chiều dọc, phân tích tỷ suất, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích đồ thị (đồ thị hình sin, đồ thị hình khối, đồ thị hình tròn). Từ đó phân tích và nhận dạng rủi ro, xếp hạng rủi ro, lập kế hoạch kiểm tra xong tiến hành kiểm tra làm rõ đúng, sai, không bỏ sót, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm. Ngoài ra, hoạt động kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế.
Do vậy công tác kiểm tra thuế là hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế nhất là trong nền kinh tế thị trường thời kỳ hội nhập. Mục đích, vai trò và đặc điểm của công tác kiểm tra thuế 1. Mục đích của công tác kiểm tra thuế Theo Quy trình kiểm tra thuế trang 01 ban hành năm 2015. Hoạt động kiểm tra thuế nhằm vào các mục tiêu sau: Tăng cường công tác kiểm tra thuế theo quy định của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế trên cơ sở áp dụng cơ chế quản lý rủi ro nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế, chống thất thu thuế.
Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế. Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế, từ đó tránh gây phiền nhiễu và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Vai trò của công tác kiểm tra thuế - Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế. Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân có đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng các 7 biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của NNT.
Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không có khiếm khuyết. Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách luật để trục lợi cá nhân. Thông qua kiểm tra thuế mà các hành vi tham nhũng, tiêu cực được phát hiện để ngăn chặn kịp thời. - Kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế.
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau. Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu khác nhau. Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi từ hành chính, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập. Chính vì vậy kiểm tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp.
- Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện. Thông qua hoạt động kiểm tra thuế giúp giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến nhân dân và doanh nghiệp. Đặc điểm của công tác kiểm tra thuế - Phạm vi điều chỉnh của kiểm tra thuế là khá rộng; đối tượng kiểm tra thuế rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế. - Kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các đối tượng kiểm tra thuế.
Các ĐTNT thường xuyên tìm mọi biện pháp nhằm tránh, lách và trốn thuế, gây khó khăn cho công tác kiểm tra thuế. - Công tác kiểm tra thuế đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người công chức thuế. Nguyên tắc của công tác kiểm tra thuế 1. Tuân thủ các quy định của pháp luật 8 Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát việc tuân thủ pháp luật của NNT.
Do vậy, mọi hoạt động kiểm tra thuế đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ: - Khi tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT phải có quyết định kiểm tra do người có thẩm quyền ban hành. - Trong quá trình kiểm tra thuế các kiểm tra viên cần thực hiện độc lập và nghiêm túc các quyền trong phạm vi pháp luật cho phép. Đảm bảo chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời khi kiểm tra - Tính chính xác, khách quan nhằm để đảm bảo đánh giá đúng thực trạng, tình hình của NNT được kiểm tra; phản ánh đúng sự thật, không thiên vị hoặc bóp méo sự việc, giúp cho việc xử lý các sai phạm đúng người, đúng việc, đúng pháp luật.
- Tính công khai thể hiện ở việc phải thông báo đầy đủ nội dung kiểm tra, tiếp xúc công khai với đối tượng kiểm tra và người có liên quan ở nơi kiểm tra và tuỳ theo tính chất từng vụ việc mà có thể công khai kết luận kiểm tra. - Tính dân chủ, kịp thời nhằm tránh biểu hiện chủ quan, áp đặt, bất chấp ý kiến của người khác, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước xử lý kịp thời những phát hiện qua kiểm tra thuế. Tuân thủ đúng quy trình, kế hoạch, nội dung đề cương được duyệt Quy trình kiểm tra thuế nhằm chuẩn hoá các nội dung, bước công việc cũng như trách nhiệm của từng bộ phận, công chức thuế khi tham gia quy trình. Do vậy, việc tuân thủ đúng quy trình, quy phạm do ngành thuế đã ban hành là một nguyên tắc bắt buộc khi thanh tra, kiểm tra thuế.
Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Đảm bảo bí mật và không cản trở hoạt động bình thường của NNT Công chức làm nhiệm vụ kiểm tra thuế là những người thường xuyên tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu bí mật, bí quyết kinh doanh của NNT hay bí mật quốc gia. Nếu những thông tin này bị lộ thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của 9 người nộp thuế, của quốc gia. Do vậy, người công chức được giao nhiệm vụ làm công tác kiểm tra thuế chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền biết và phải đảm bảo tính bí mật đối với những thông tin quan trọng trọng quá trình kiểm tra.
Công chức làm nhiệm vụ kiểm tra thuế khi làm việc tại trụ sở NNT phải tuân thủ theo đúng quy trình kiểm tra và các quy định khác có liên quan, không gây phiền hà, sách nhiễu, không cản trở đến hoạt động bình thư ờng của NNT. Các hình thức kiểm tra thuế 1. Theo tính kế hoạch Nếu xét theo tính kế hoạch, hoạt động kiểm tra thuế có hai hình thức là kiểm tra theo chương trình, kế hoạch đã được duyệt và kiểm tra đột xuất. - Kiểm tra theo chương trình, kế hoạch đã được duyệt: Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, CQT xây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế được phê duyệt.
- Kiểm tra đột xuất: Được tiến hành khi CQT phát hiện NNT có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.