phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của nội dung luận văn bao gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác xử lý tài sản thế chấp tại các Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng công tác xử lý tài sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bạc Liêu Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý tài sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bạc Liêu. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tài sản thế chấp trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về tài sản thế chấp Theo từ điển Tiếng Việt giải thích: Thế chấp là dùng vật bảo đảm thay thế cho số tiền vay nếu không có khả năng trả đúng hạn.
Nhƣ vậy, về ngữ nghĩa cơ bản, thế chấp có thể đƣợc hiểu là một biện pháp mà các bên thỏa thuận lựa chọn để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ thông qua một tài sản mà giá trị của tài sản này có khả năng thay thế cho nghĩa vụ bị vi phạm. Về bản chất của thế chấp, thế chấp là một biện pháp bảo đảm vừa có tính chất trái quyền vừa có tính chất vật quyền. Tính trái quyền thể hiện thông qua hợp đồng thế chấp (HĐTC) đƣợc xác lập và đó phải là một hợp đồng hợp pháp. Tính vật quyền đƣợc thể hiện thông qua các quyền trực tiếp của bên nhận thế chấp đối với TSTC.
Khái niệm thế chấp tài sản theo quy định tại Điều 317 Bộ Luật dân sự (BLDS) 2015: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp; tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho ngƣời thứ ba giữ tài sản thế chấp. So với BLDS 2005 tiếp cận thế chấp dựa trên lý thuyết trái quyền thì BLDS 2015 bƣớc đầu đã ghi nhận và thể hiện đƣợc một số nội dung (đặc điểm) của vật quyền bảo đảm để tăng cƣờng tính chủ động của bên nhận bảo đảm trong việc xử lý TSTC. Khái niệm TSTC chƣa đƣợc quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào của nƣớc ta.
Cách hiểu về TSTC căn cứ vào khái niệm tài sản và từ những quy định về biện pháp thế chấp nói chung. Khái niệm tài sản theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015 “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tƣơng lai.” Kết hợp với khái niệm thế chấp nêu trên, có thể mô tả TSTC 2 bằng các tiêu chí sau: bất kỳ tài sản nào cũng có thể là TSTC trừ trƣờng hợp pháp luật cấm hoặc các bên không thỏa thuận lựa chọn; là đối tƣợng trong HĐTC có mục đích bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, là phƣơng tiện để bên nhận thế chấp đòi lại quyền lợi của mình; thuộc sở hữu của bên thế chấp; không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp.
Qua đó, ta có thể khái niệm TSTC là vật hoặc quyền đƣợc các chủ thể thỏa thuận lựa chọn để bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ đƣợc bảo đảm. Đặc điểm pháp lý của tài sản thế chấp - Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp Đây là nguyên tắc bất di bất dịch của BLDS Việt Nam ghi nhận về TSTC. Quyền sở hữu là căn cứ để hình thành nên quyền thế chấp tài sản, bởi chỉ có chủ sở hữu tài sản mới có quyền dùng tài sản của mình thế chấp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của ngƣời khác. Chủ sở hữu thông qua HĐTC để chuyển giao quyền định đoạt tài sản cho bên nhận thế chấp trong thời hạn bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và chỉ còn giữ lại quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản.
- Tính xác định của tài sản thế chấp Do TSTC là đối tƣợng của HĐTC, nên phải tuân thủ điều kiện chung của đối tƣợng hợp đồng là tính xác định. Khoản 2, Điều 295 BLDS 2015 quy định “Tài sản bảo đảm có thể đƣợc mô tả chung, nhƣng phải xác định đƣợc”. Mô tả chung tức là không thể cụ thể hóa loại tài sản đó vì đối với tài sản hình thành trong tƣơng lai tài sản chƣa hình thành hoặc chƣa hình thành một cách đồng bộ tuy nhiên phải xác định đƣợc, tức là có cơ chế xử lý chính xác loại tài sản đó khi phát sinh vấn đề xử lý TSBĐ. Xác định đƣợc thể hiện ở hai góc độ: tính xác định về vật lý và tính xác định về pháp lý.
Về vật lý, phải xác định đƣợc tài sản là vật hay là quyền, nếu là vật thì phải xác định đƣợc vật đó là động sản hay bất động sản, chủ sở hữu và giá trị tài sản. Nếu là quyền, thì cần xác định đƣợc đối tƣợng có nghĩa vụ đối với quyền đó. Về pháp lý, cần xác định đƣợc tình trạng pháp lý của tài sản có tranh chấp hay là đối tƣợng bị kê biên hay bị thu hồi hay không cũng nhƣ khả năng giao dịch, chuyển nhƣợng. 3 - Giá trị tài sản thế chấp là nội dung mà bên nhận thế chấp hướng tới trong hợp đồng thế chấp Điều 321 BLDS 2015 quy định “Trƣờng hợp tài sản thế chấp là kho hàng thì bên thế chấp đƣợc quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhƣng phải bảo đảm giá trị của hàng hóa trong kho đúng thỏa thuận”.
Cho thấy, không phải TSTC mà chính giá trị của TSTC mới là nội dung quan trọng nhất trong HĐTC mà bên thế chấp hƣớng tới. Bởi vì chỉ có giá trị TSTC mới bù đắp đƣợc giá trị của nghĩa vụ bị vi phạm. Tuy nhiên, TSTC luôn biến động về trạng thái và giá trị vì trong suốt thời gian thế chấp, tài sản do bên thế chấp nắm giữ và sử dụng. Bằng nhiều cách thức khác nhau, bên thế chấp có thể thay đổi trạng thái và giá trị tài sản theo hƣớng không có lợi cho bên nhận thế chấp.
Vì vậy, bên nhận thế chấp cần có các biện pháp để quản lý TSTC, hay đúng hơn là quản lý giá trị của TSTC trong suốt thời gian thế chấp. - Tài sản thế chấp do bên thế chấp nắm giữ và không được chuyển giao cho bên nhận thế chấp Không giống nhƣ biện pháp bảo đảm cầm cố tài sản, trong thời hạn thế chấp nếu nghĩa vụ bảo đảm không bị vi phạm thì bên thế chấp vẫn có quyền chiếm hữu, sử dụng TSTC. Điều này tạo ra những rủi ro tiềm ẩn cho bên nhận thế chấp, do vậy, chỉ những tài sản nào bên nhận thế chấp có thể kiểm soát đƣợc thì mới đƣợc dùng để thế chấp. Cụ thể ở Việt Nam, ngoài bất động sản thì các động sản cũng đƣợc dùng để thế chấp nhƣ: các phƣơng tiện vận tải hay hàng hóa luân chuyển,…đều là những tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc đƣợc quản lý tại một vị trí nhất định.
- Mọi sự thay đổi đối với tài sản thế chấp ban đầu không làm mất đi tính bảo đảm của nó đối với bên nhận thế chấp Các quyền của bên nhận thế chấp đối với TSTC không bị chấm dứt hoặc bị vô hiệu bởi các giao dịch thực hiện sau đó liên quan đến TSTC. Bởi vì nhƣ đã phân tích ở trên, cái bên nhận thế chấp hƣớng đến không phải là hình thức tồn tại của TSTC mà chính là giá trị của TSTC. Điều này thể hiện rõ tại Điều 321 BLDS 2015 “Bên thế chấp đƣợc bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trƣờng hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu đƣợc, tài sản hình thành từ số tiền thu 4 đƣợc, tài sản đƣợc thay thế hoặc đƣợc trao đổi trở thành tài sản thế chấp luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh thì quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu đƣợc hoặc tài sản hình thành từ số tiền thu đƣợc trở thành tài sản thế chấp thay cho tài sản đã bán”.
Phân loại tài sản thế chấp - Phân loại theo khả năng di dời tài sản, TSTC được chia thành bất động sản và động sản Bất động sản là các tài sản không di dời đƣợc. Bất động sản có đặc điểm là gắn cố định với một không gian, vị trí nhất định, có tính bền vững và thƣờng có giá trị lớn. Khoản 1 Điều 107 BLDS 2017 quy định “Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.” Động sản là những tài sản không phải là bất động sản (Khoản 2 Điều 107 BLDS 2017). Động sản có đặc điểm là không gắn cố định với một không gian, vị trí nhất định và có thể di dời đƣợc, thƣờng có tính kinh tế cao do có khả năng sinh lời trong sử dụng kinh doanh.
Ví dụ: máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận chuyển, dây chuyền công nghệ. - Dựa vào hình thức tồn tại của TSTC, TSTC chia thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ các mục đích của mình. Tài sản hữu hình có những đặc điểm nhận biết sau: Có đặc tính vật lý, thuộc sở hữu của chủ tài sản, có thể trao đổi đƣợc và mang giá trị vật chất hoặc tinh thần.
Ví dụ: đất đai, nhà cửa, công trình khác, máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải, thiết bị sản xuất, thiết bị truyền dẫn. Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất và có khả năng tạo ra các quyền, lợi ích kinh tế. BLDS 2015 định nghĩa về tài sản vô hình thông qua khái niệm về quyền tài sản là “quyền trị giá đƣợc bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tƣợng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.