Chương 1: Cơ sở lý thuyết về ứng dụng công nghệ thông tin. Trong chương này, luận văn trình bày: KháD nDệm và đặc đDểm củaCNTT; Ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính; Các tDêuchí dánh gDá hDệuquả ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính; Các yếutố ảnh hưởng đến hDệuquả ứng dụng CNTT; BàD học kDnh nghDệm ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước. Chương 2: Phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc huyện Bàu Bàng. Trong chương này, luận văn trình bày: KháD quát về huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương; Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc huyện BàuBàng; Khảosát ý kDến củacán bộ về vDệc ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc huyện BàuBàng; Đánh gDá hDệuquả ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc huyện Bàu Bàng.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước huyện Bàu Bàng. 7 Trong chương này, luận văn trình bày: Quan đDểm, mục tDêu và những thách thức trong vDệc ứng dụng CNTT tạD huyện Bàu Bàng tình Bình Dương; Căn cứ đề xuất gDảD pháp; Một số gDảD pháp nhằm nâng caohDệuquả ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính huyện BàuBàng tỉnh Bình Dương; KDến nghị. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Công nghệ thông tin 1.1 Khái niệm về công nghệ thông tin Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết số 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam, như sau: “Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá”. Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số (Luật Công nghệ thông tin, 2006). Công nghệ thông tin (CNTT) là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình ảnh. Vì vậy, CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người.
Tuy khái niệm thông tin rất phổ biến trong đời sống con người nhưng những nội dung khoa học chung nhất về thông tin và quá trình thông tin mới chỉ được bắt 9 đầu được nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20, khi nhu cầu truyền tin của con người tăng rất nhanh. Một trong những thành tựu đặc sắc của lý thuyết truyền tin là việc đưa ra khái niệm lượng thông tin. Lý thuyết về lượng thông tin ra đời đã tạo nền móng cho con người phát hiện ra thêm nhiều quy luật của thông tin và quá trình truyền tin. Thông tin có nhiều loại khác nhau có thông tin là các số liệu, dữ liệu thu thập, điều tra, khảo sát.
Từ đó qua phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn. CNTT và truyền thông (ICT) bao gồm 4 trụ cột cấu thành: nguồn nhân lực ICT, ứng dụng ICT, cơ sở hạ tầng ICT, công nghiệp ICT. Lĩnh vực ứng dụng ICT gồm: kinh tế, xã hội, quản lý và những kết quả ứng dụng như : chính phủ điện tử , giáo dục điện tử, truyền thông và giải trí điện tử … Công nghiệp ICT gồm Công nghiệp phần mềm (CNPM), Công nghiệp phần cứng (CNPC), Công nghiệp điện tử cùng các nhân tố hỗ trợ như trí thức, thông tin, dữ liệu…. Công nghệ phần mềm bao gồm: máy tính, công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông, công nghiệp điện tử.
Công nghệ phần mềm là một ngành kinh tế nhằm nghiên cứu, xây dựng phát triển , sản xuất và phân phối các sản phẩm phần mềm, cung cấp các dịch vụ đào tạo, huấn luyện, tư vấn các giải pháp, hỗ trợ kỹ thuật, bảo trì cho người tiêu dùng… Nguồn nhân lực ICT gồm : người lãnh đạo, chuyên gia, người sử dụng, doanh nghiệp. Cơ sở hạ tầng ICT gồm: điện thoại di động, điện thoại cố định, internet, băng thông, cước. Bốn thành phần này có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ tạo nên sức mạnh ICT, được thúc đẩy và phát triển bởi 3 chủ thể là Chính phủ, người sử dụng, doanh nghiệp. Máy tính điện tử và việc xử lý thông tin bằng máy tính điện tử là thành phần cốt lõi của CNTT.
Máy tính điện tử: Để chế tạo ra máy tính điện tử người ta phải tìm được cách biểu diễn thông tin bằng các tín hiệu kỹ thuật và cách thực hiện các hoạt động lưu trữ, xử lý thông tin bằng các biện pháp xử lý kỹ thuật trên các tín hiệu tương ứng. 10 Máy tính điện tử đã trở thành thiết bị xử lý thông tin thống nhất và đa năng. Trên nguyên tắc mọi quá trình xử lý thông tin đều có thể quy về một trình tự thực hiện liên tiếp của các phép toán sơ cấp đơn giản. Theo đó, cấu trúc một máy tính điện tử gồm: bộ lôgic số học thực hiện các phép toán sơ cấp theo trình tự quy định, bộ nhớ để ghi các chương trình tính toán và dữ liệu, các thiết bị đưa dữ liệu vào và đưa kết quả ra.
Kết cấu này được gọi là phần cứng của máy tính, nó là bộ khung vật chất cơ bản cho quá trình xử lý thông tin. Phần lôgic của quá trình xử lý thông tin được người dùng đưa vào để điều khiển thông qua các lệnh. Tập hợp các lệnh đó tạo nên một chương trình xử lý thông tin và đó gọi là phần mềm của máy tính. Tuỳ mục đích của người sử dụng mà chọn phần mềm tương ứng, đây là phần linh hoạt nhất của máy tính và mang nhiều dấu ấn đặc trưng của con người.
Những năm cuối 80 và đầu những năm 90 để góp phần cho xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin làm nền móng cho một xã hội thông tin như hiện nay thì cuộc cách mạng về viễn thông truyền dữ liệu trên cơ sở cáp quang, vệ sinh và vi ba số tạo khả năng thiết lập hệ thống siêu xa lộ thông tin đã bùng nổ. Internet là một danh từ riêng dùng để chỉ hệ thống các mạng máy tính toàn cầu, mạng của các mạng, với việc sử dụng mạng intenet con người có thể kết nối, trao đổi thông tin với tất cả mọi người trên toàn cầu. Chính internet đã làm thay đổi cuộc sống của con người và hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Tóm lại CNTT là thuật ngữ rất rộng dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ có liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin gồm tri thức, sự kiện, hình ảnh.
CNTT là công cụ quan trọng hàng đầu để triển khai thực hiện mục tiêu, kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.2 Đặc điểm chính của công nghệ thông tin CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực. CNTT là ngành kinh tế mũi nhọn được Nhà nước ưu tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển. Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông góp phần quan trọng vào 11 tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các ngành, linh vực cùng phát triển, tăng cường năng lực công nghệ quốc gia trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển công nghiệp nội dung thông tin và công nghiệp phần mềm, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển xã hội thông tin là hướng ưu tiên quan trọng được Nhà nước đặc biệt quan tâm.
CNTT và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động. Ngày nay, CNTT càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong nhiều ngành, cụ thể như: từ ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước, xây dựng, tài chính, tín dụng, giáo dục và đào tạo, hoạt động văn hoá, thể thao,.Trong năm 2005, Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT đã phối hợp với Hiệp hội phần mềm Việt Nam (VINASA) và Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư công nghệ FPT tiến hành điều tra, khảo sát về ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp. Theo kết quả công bố thì nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của CNTT trong việc hỗ trợ các hoạt động quản lý, sản xuất và kinh doanh.
Đối với các ngành kinh tế khác nhau thì mức độ sử dụng CNTT cũng khác nhau. Có thể thấy CNTT được ứng dụng mạnh mẽ nhất là trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp như Tổng công ty dệt may, công ty Cao su Đà Nẵng, công ty dệt may Phong Phú. Với những doanh nghiệp này các hệ thống máy tính hỗ trợ thiết kế, hỗ trợ sản xuất , các dây chuyền sản xuất trên cơ sở công nghệ mạng đã trở thành nhân tố sống còn đối với hoạt động sản xuất.