Chương 1: Một số lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nam. 12 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm liên quan đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó – kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Điều 04 Luật các TCTD năm 2010 (luật số 47/2010/QH12) chỉ rõ: “Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.[13] “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”[13] Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội, hoạt động của ngân hàng thương mại cũng có nhiều phương pháp mới, nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư.
Qua ngân hàng thương mại các chính sách tài chính tiền tệ của Quốc gia sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh 13 nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội. Trong cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp nhưng chúng là những doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong quá trình kinh doanh của các ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào các khách hàng. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả kinh doanh Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và nguồn lực mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “hiệu quả kinh doanh”: Nhà kinh tế học Manfred Kuhn cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.” Theo Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Một số học giả khác cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó”. Từ những quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát: Hiệu quả kinh doanh của NHTM là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả phải gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp và được thể hiện qua công thức sau: Kết quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh = Nguồn lực đầu vào sử dụng Hiệu quả kinh doanh mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra hoặc các nguồn lực được huy động để nhận được lợi ích kinh tế đó. Biểu hiện của lợi ích và chi phí kinh tế phụ thuộc vào chủ thể và mục tiêu mà chủ thể đặt ra.
Đối với chủ thể doanh nghiệp, đó có thể là doanh thu bán hàng và những chi phí gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để có được doanh thu bán 14 hàng đó. Hiệu quả kinh doanh được biểu hiện trên cả hai mặt lượng và chất: Về mặt lượng: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đó. Về mặt chất: Việc đạt được hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý, đồng thời đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu kinh tế với việc đạt được những mục tiêu xã hội. Hiệu quả kinh doanh của NHTM được đo lường một cách tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu.
Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từmhoạt động dịch vụ, bởi quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có. Hiệu quả kinh doanh của NHTM quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Nếu NHTM hoạt động có hiệu quả thì uy tín của ngân hàng đó sẽ được tăng lên, người gửi tiền sẽ yên tâm và tin tưởng và do đó công tác huy động vốn của ngân hàng sẽ được thuận lợi và phát triển. Trên cơ sở nguồn vốn huy động tăng đó NHTM mới có khả năng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình và tạo ra được lợi nhuận ngày càng cao, tích lũy được nhiều và có điều kiện nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút khách hàng và tạo ra hiệu quả ngày càng tăng.
Chính vì vậy mà NHTM coi hiệu quả là mục tiêu hàng đầu của hoạt động kinh doanh. Việc phân tích hiệu quả kinh doanh NHTM thông qua các tỷ số phải được xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng phát triển và quy luật vận động của chúng, ngoài ra việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của chính ngân hàng đang phân tích, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ đó sẽ dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu, và dễ dàng tìm ra được các biện pháp giải quyết thích hợp. Khái niệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Theo từ điển Tiếng Việt: nâng cao nghĩa là làm tăng thêm. Như vậy, có thể 15 hiểu nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại là làm tăng thêm tỷ số giữa kết quả kinh doanh và nguồn lực đầu vào.
Để làm được điều này có thể xảy ra các trường hợp như sau: Thứ nhất, ngân hàng thương mại cố định nguồn lực đầu vào nhưng gia tăng được kết quả kinh doanh về doanh thu, thị phần.; Thứ hai, NHTM thực hiện sử dụng tiết kiệm các yếu tố đầu vào, giảm thiểu chi phí nhưng vẫn giữ được kết quả hoặc tăng thêm; Thứ ba, NHTM thực hiện các biện pháp giúp tốc độ tăng của kết quả cao hơn so với các chi phí đầu vào. Như vậy, trong luận văn này tác giả thống nhất quan điểm về nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tức là nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực của NHTM để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1. Chênh lệch giữa thu nhập và chi phí Khi xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp nói chung và của một NHTM nói riêng, người ta thường quan tâm trước hết đến chênh lệch giữa thu nhập và chi phí hay chính là lợi nhuận.
Lợi nhuận là thước đo chủ yếu để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận được xác định bởi công thức: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí (1.1) Khi lợi nhuận càng lớn thì thể hiện NHTM làm ăn càng có lãi. Tuy nhiên, bản chất của lợi nhuận lại chưa biểu hiện đầy đủ hiệu quả kinh doanh. Bởi để xác định hiệu quả kinh doanh còn cần xác định lợi nhuận đó được tạo ra từ nguồn lực nào và phải so sánh kế quả đó với chi phí tương ứng để tìm được mối tương quan của kết quả và hoạt động tạo ra kết quả đó.
Hiệu suất sử dụng vốn Vốn là yếu tố giúp NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ. Đối với các doanh nghiệp khác vốn đã rất quan trọng, đối với NHTM vốn còn quan trọng hơn, vì đối với NHTM vốn vừa là yếu tố đầu vào cho quá trình kinh doanh vừa là sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Quá trình sản xuất kinh doanh của ngân hàng đòi hỏi phải có vốn ứng trước. Sử dụng vốn là hoạt động sử dụng các nguồn vốn đã huy 16 động nhằm mục đích sinh lời.
Đây là hoạt động quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại. Hiệu suất sử dụng vốn được tính theo công thức: Tổng dư nợ Hiệu suất sử dụng vốn = (1.2) Tổng vốn huy động Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng vốn huy động vào việc cho vay vốn của ngân hàng. Thông thường theo cách nhìn của nhiều người, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn huy động được để cho vay. Tuy nhiên, ngoài kênh tín dụng trực tiếp cho khách hàng của mình, ngân hàng còn nhiều kênh kinh doanh khác như kinh doanh ngoại hối, hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, đầu tư vốn… Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp chúng ta so sánh khả năng cho vay và huy động vốn của một ngân hàng.
Tỷ suất lợi nhuận hoạt động tín dụng Thu nhập từ hoạt động tín dụng của NHTM đến từ chênh lệch giữa các khoản thu từ lãi thông qua các hoạt động tín dụng và các khoản chi phí trả lãi cho khách hàng thông qua các khoản vốn huy động.