Chương 1: Thủy điện độc lập và hoạt động đầu tư theo hình thức BOO Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư thủy điện độc lập(IPP) theo hình thức BOO của ng ty Cỏ phan Phát triển Năng lượng Sơn Vũ Chương 3: Để xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án của Công ty Cổ phần Phát triển Năng lượng Sơn Vũ 10 CHUONG 1: THỦY ĐIỆN ĐỌC LẬP. VÀ HOẠT ĐỘNG BAU TƯ. THEO HÌNH THỨC BOO. Ngành điện là một ngành kinh tế ch đạo có vị trí rất quan trọng trong nỄ kinh tế quốc din, Ngành điện cung ứng mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống, sinh hoạt, lao động sản xuất của tắt cả các ngành và người dân.
Trong đó thủy điện ip đóng góp một phần không nhỏ vào quá trinh sản xuất và cung cấp điện cho cả nước hiện nay. Khi chủ đầu tư có ý định đầu tư vào thủy điện tại một địa điểm nào đó thi phải dim bảo được rằng dự án sẽ được nằm trong quy hoạch tổng thể ngành điện của Quốc gia. Nam 2002, Nha nước chính thức cho phép tư nhân được tham gia làm thủy điện theo chính sách BOO (xây dựng-sở hữu-kinh doanh). “Theo mục I, điều 2, quyết định 30/2006/QĐ-BCN ngày 31 tháng 08 năm 2006 của Bộ Trướng Bộ Công Nghiệp về việc ban hành quy định quan lý đầu tư.
xây dựng các dự án điện độc lập (IPP) thì thủy điện độc lập là các dự án đầu tư xây dựng thủy điện không sử dụng vốn ngân sách nhà nước để đầu tư, khai thác và bán điện theo quy định của pháp luật về điện lực. Đặc điểm của thủy điện độc lập Dự án thủy điện độc lập bao gồm những đặc điểm như sau: a. Phụ thuộc nhiễu vào diéu kiện tự nhiên nơi đặt địa điểm dự ám Khi chủ dự án định đầu tư vào thủy điện thì việc cần quan tâm đầu tiên 46 là điều kiện tự nhiên của khu vực định đầu tư có phủ hợp với thủy điện hay không. Một trong những yếu tố quyết định để thực hiện dự án thủy điện đó là dong chảy hàng năm của lưu vực sông.
Dòng chảy hing năm là điều kiện đầu tiên và là yếu tổ quyết định trong việc lựa chọn công suất cho nha máy thủy điện. Nước ta có hệ thống sông ngòi, ao hd day đặc.Các hệ thống sông đều có giá trị đáng kế về thủy lợi. Chỉ tính riêng các con sông có chiều dài trên 100m thì nước ta đã có đến 2360 con sông. Đi theo dọc bở bi + trung bình cứ 20 km lại gặp một cửa sông Tuy sông có nhiều nhưng phin lớn đều là sông nhỏ, nguồn tải nguyên đem lại nếu tính riêng trên một con sông thì chưa nhiều.
Đây là điều kiện thuận lợi để phát trién thủy điện của nước ta Ngoài ra điều kiện địa hình và khí hậu cũng là những yếu tổ quan trọng trong việc quyết định có nên đầu tư ngành thủy điện cho vùng nảo đấy hay không. Với ic điểm địa lý của đất nước có nhiều đồi núi, cao nguyên và sông, hồ, địa hình đốc, lại có mưa nhiều nên hàng năm mạng lưới sông suối vận chuyển ra biển hơn 870 tym’ nước, tương ứng với lưu lượng trung bình khoảng 37.500mŸ/giây, rất thuận lợi cho việc phát triển các nhà máy thủy điện. Thị trưởng đâu ra tiền năng: Nền kinh tế Việt Nam đang trên đã tăng trưởng mạnh mẽ rong những năm gần đây với tốc độ tăng trường GDP hàng năm trên 6.3%, hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng xã hội ngày cảng gia tăng. Do đó, nhu cầu điện năng phục vụ cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt cũng ngày càng lớn.
Đây là điều kiện thuận lợi cơ bản cho sự phát triển ngành điện nói chung và các nhà máy thủy điện độc lập nói riêng. Theo tính toán của EVN thì nhu cầu sử dụng điện năng trong nước sẽ tăng, trưởng 16-17%inäm. Mỗi năm nhu cầu điện tăng thêm I. đương với công suất của Nhà máy thủy điện Hòa Bình hoặc 20 nhà máy thủy.
điện Uông Bí hoặc 12 nhà máy thủy điện Đa Nhim. Có thể thấy như cầu sử dụng điện năng từ nay cho đến năm 2020 cũng như 2080 tăng ngày cảng nhanh theo dự bảo như sau: đó: Thủy điện chiếm 23,1%; thủy điện tích năng 2,4%; nhiệt di Gt điện khí đốt 16,5% (trong đó sử dụng LNG 2, : nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo 5,6%; điện hạt nhân 1,3% và nhập khẩu điện 3,1%. Điện năng sản xuất và nhập khẩu năm 2020 khoảng 330 ty kWh, trong đó: Thủy điện chiếm 19,6%; nhiệt điện than 46,8%; nhiệt điện khí đốt 24,0% (trong .đó sử dung LNG 4.0%); nguồn điện sử dụng năng lượng tải tạo 4.5%; điện hạt nhân 2,1% và nhập khẩu điện 3,0%. Định hướng đến năm 2030: 1g công suất các nhà máy điện khoảng 146.800 MW, trong 46 Thủy điện chiếm 11,8%; thủy điện tích năng 3,9%; nhí điện than 51,6%; nhiệt điện khí đốt 1 1,8% (trong đó sử dụng LNG 4,1%); nguồn điện sử dung năng lượng tái tạo 9.4%; t nhân 6,6% và nhập khẩu điện 49%.
Điện năng sản xuất năm 2030 là 695 tỷ kWh, thủy điện chiếm 9,3%; nhiệt điện than 56,4%; nhiệt điện khí đốt 14.4% (trong đó sử dung LNG 3,9%); nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo 6.0%; điện hạt nhân 10,1% và nhập khẩu điện 3. Dự báo nhu cầu trên đòi hỏi ngành điện phải đẩy mạnh xây dựng thêm nhiều nhà máy thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, điện nguyên tử đồng thời kết hợp trao đối, liên kết lưới điện với các nước trong khu vực để đáp ứng nhu cầu nội địa và tiền tới xuất khâu điện năng. Việt Nam là một quốc gia được thiên nhiên tu đãi có hệ thống sông ngồi phong phú, đa dạng trải khắp chỉ đài đất nướ T lợi cho ví phát triển thủy điện: 64% tập trung ở Miền Bắc, 23% ở Miễn Trung va 13% ở Mien Nam. Mới chỉ có khoảng 1⁄4 tiềm năng thủy điện ở nước ta được khai thác để phục vụ sản xuất và dân sinh.
Triển vọng của thủy điện là rit lớn. Chi phí iu t lớn và không sử dụng vin Ngôn sich nhà nước. Các dự án về điện đều phải đầu tư cơ sở vật chất lớn và hiện đại, do đó. nguồn vốn đầu tư rit lớn, thời gian đầu tư xây dựng kéo dai, Do số lượng vốn đầu tư ban đầu lớn, nên hiện nay các cơ sở nh’ máy điện chủ do EVN đầu tư.
Dù rét nhiều tiềm năng nhưng thủy điện cũng kén nhà đầu tư do gắn với nhiều yếu t6 quan trọng như von, địa điểm, ky thuật, dau ra. Theo số liệu thống kế dé sản xuất được 1 MW điện, ứng với sản lượng điện 4,2 triệu kWh/năm, nhà đầu tư phải bỏ ra từ 20-25 tỉ đồng, thim chi ở những địa bản có địa ih phức tap th đầu tư IMW có thể lên 5 i đồng, nên ngành này chi đành cho những nhà đầu tư có tim lực ti chính vững vàng. Năm 2002, Nhà nước chính thức cho phép tư nhân được tham gia làm thủy điện theo chính s ch BOO (xây dựng-sở hữu-kinh doanh) nhưng đầu tư vào thủy điện cần vốn lớn nên đủ nhà nước mở cửa, thị trường đầu ra rat tiềm năng nhưng vin đề về vốn lại là rio cản. lớn nhất đối với các DN tư nhân.
Thời gian đầu te kéo dài Các dự án thủy điện thường có thai gian dầu tư kéo dai nhiễu năm chẳng, hạn dự án Thủy điện Sông Boung 2, công suất 100 MW, vốn đầu tư 2.200 tỷ đồng, xây dựng 6 năm, Dự án thủy điện Hương Sơn có vốn đầu tư 810 tỷ đồng, công suất 33MW thời gian đầu tw đã 4 năm nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành. Sở di có sự kéo dai về thời gian này là do xây dựng nhà máy thủy điện bao gồm rit nhiều hạng mục công trình như Hỗ chứa nư ; Đập chính; Đập phụ: Trin xa lũ; Đập trin; Cổng lấy nước; Kênh dẫn nước vào hi: Cửa lấy nước; Tuynel áp lực; Đường dng áp lực, nhà máy, đường dây tải điện.lại phải xây dựng trong điều kiện địa hinh phức tạp ( đồi núi đốc, hiểm trở). Trong khi đó đòi hỏi phải xây dựng các hạng mục hoàn chỉnh đồng bộ thì mới có thể đưa hành và sử dụng. Chính vì vậy thời gian đầu tư vào các dự án thủy điện kéo di hơn so với những dự án sản xuất khác.
Phải đảm bảo được đầu ra trước khi tiễn hành xây dựng nhà máy thủy" điện Hiện nay ở nước ta ngành điện là ngành kinh tế độc quyền: chỉ duy nhất có Tập đoàn Điện lực Việt nam - EVN là người mua điện duy nhất và cũng là người bán điện duy nhất đến người tiêu dùng. Cả các nhà cung cấp điện cũng như người sử dụng điện không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc bán và mua điện của EVN. Do đồ việc tiêu thụ sin phẩm của các dự án thủy điện có đặc điểm khác với sản phẩm của những dự án sản xuất khác đó là phải đảm bảo được đầu ra trước khi xây dựng dự án. Tức là đầm phán thành công phương án đấu nổi với công ty mua bán điện EVN thì mới có thé hình thành dự án xây dựng nhà máy thủy điện.
Phương án đấu ni lưới điện bao gồm: công suất, điện năng, thời điểm dự kiến mua bin điện, điểm đấu n i, điểm đặt thiết bị đo đếm mua bán. điện, cấp điện áp mua bán điện, thể hiện phương án mua bán điện trên bản đồ lưới điện khu vực. Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam việc đảm phán về phương án đấu nối giữa các chủ đầu tr dự án thủy điện với EVN chưa thực sự đạt hiệu quả. Có không ít những dự án vẫn khởi công trong khi chưa đầm phán được phương án đầu nối.
'Nguyên nhân của việc dim phán không hiệu qua nay chủ yếu là do EVN chưa làm đường đây đến các thủy điện nhỏ mua điện. Trong khi nếu như chủ đầu tư bỏ tiền ra để đầu tư vào đường dây truyền tải thì chỉ phí đầu tư lại vượt trội lên ma đường dây lại vẫn thuộc quyền sở hữu của EVN hoặc nếu như vậy thì phải thỏa thuận lại giá mua điện thì chủ đầu tư mới có thể thu hồi vốn mà mình bỏ ra đầu tu, Tuy nhiên EVN đến nay vẫn chưa có câu trả lời rõ rằng cho các chủ đầu tw nên vẫn tồn tại những dự án dù đã đi vào vận hành, sản xuất ra điện nhưng lại không phát huy được do chưa thỏa thuận được phương án đầu nối và giá bản điện với EVN 1. Phân loại các hình thức đầu tư thủy điện độc lập Sau khi được Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tư nhân được đầu tư thủy điện năm 2002.