MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Hiện nay, trên thế giới vấn đề đảm bảo chất lượng điện năng ngày càng trở nên quan trọng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt. Do nhu cầu sử dụng điện ngày càng cao nên những thiệt hại của nền kinh tế khi ngừng cung cấp điện sẽ rất lớn.
Ở những nước đã hình thành thị trường điện, việc mua bán điện được thực hiện theo hợp đồng giữa bên mua và bên bán khi đó tiêu chuẩn về chất lượng điện năng sẽ là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu bên bán điện không đảm bảo tiêu chuẩn điện áp, tần số, công suất và thời gian cung cấp điện theo hợp đồng gây thiệt hại đến bên mua điện thì bên bán điện phải bồi thường cho bên mua điện theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bên mua điện phải có trách nhiệm đảm bảo các trang thiết bị sử dụng điện của mình hoạt động an toàn để không gây ra sự cố cho hệ thống điện, không làm ảnh hưởng đến chất lượng điện áp của lưới điện. Vì vậy, các tiêu chuẩn về chất lượng điện năng luôn được những người làm công tác quản lý vận hành và kinh doanh điện năng hết sức coi trọng.
Ở nước ta trong những vừa năm qua, hệ thống lưới điện từng bước được phát triển vững chắc, chất lượng điện năng và độ tin cậy ngày càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngành điện đã có nhiều nỗ lực hoàn thành vượt thời gian hơn một năm mục tiêu phát triển của ngành đã được Đại hội lần thứ IX của Đảng xác định. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 15%/năm, cao hơn 4% so với mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001-2005 đã đề ra. Ngành điện cũng phấn đấu giảm tổn thất điện năng từ 14,03% năm 2000 xuống còn 12% năm 2005, tiết kiệm hơn 500 tỷ đồng cho Nhà nước.
Năm 2006, trong tháng Học viên: Nguyễn Hoàng Dương Lớp Cao học HTĐ 2004-2006 LUËN V¡N TèT NGHIÖP 3 01/2006, sản lượng điện cung cấp cho nền kinh tế đạt 3,734 tỷ kWh, đến tháng 8/2006, sản lượng điện sản xuất ước đạt 5,1 tỷ kWh, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là nỗ lực lớn của ngành điện. Cùng với sự phát triển của đất nước, thành phố Hà Nội là một trong những thành phố có sản lượng điện thương phẩm lớn đạt 4,09 tỷ kWh chiếm gần 10% sản lượng điện thương phẩm cả nước. Hiện nay, do tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố có nhiều biến động và phát triển mạnh mẽ, quá trình đô thị diễn ra nhanh chóng, thành phố thành lập thêm hai quận mới là Long Biên và Hoàng Mai, nhiều công trình trọng điểm mới xuất hiện như Trung tâm Hội nghị Quốc tế, nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp sẽ xuất hiện ở khu vực phía Tây và phía Bắc thành phố như khu công nghiệp Bắc Thăng Long (198ha), khu công nghiệp Đông Anh (300ha), khu công nghiệp Sóc Sơn (300ha), khu công nghiệp Đài Tư (40ha),… Mặt khác trong mục tiêu nhiệm vụ phát triển của thành phố trong giai đoạn 2006 ÷ 2010, Hà Nội sẽ tập trung ưu tiên nhiều hơn cho mục tiêu hiện đại hoá, nâng cao chất lượng phát triển và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, phấn đấu tăng trưởng GDP chung của thành phố đạt 10,5 ÷ 11,5% năm đòi hỏi kết cấu mạng lưới điện cũng phải có nhiều thay đổi và bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển thực tế.
Bên cạnh đó, việc đảm bảo an toàn cung cấp điện và đảm bảo mỹ quan đô thị trong thành phố là một trong những mục tiêu chất lượng của Công ty Điện lực thành phố Hà Nội. Tại Nghị định 92/2005/NĐ-CP cũng quy định chi tiết một số điều về Pháp lệnh Thủ đô trong đó đã đề ra mục tiêu thực hiện hạ ngầm hệ thống đường dây nổi trước năm 2015 trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vì vậy, để nâng cao chất lượng cung cấp điện, giảm thời gian ngừng điện của khách hàng, giảm sản lượng điện năng mất của Công ty Điện lực thành phố Hà Nội, đồng thời thực hiện đúng chủ trương của Nhà nước, việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao độ ổn định và liên tục trong quá trình cung ứng Học viên: Nguyễn Hoàng Dương Lớp Cao học HTĐ 2004-2006 LUËN V¡N TèT NGHIÖP 4 điện, đồng thời đảm bảo an toàn cung cấp điện và mỹ quan đô thị trở nên hết sức cần thiết. Mục đích của đề tài Để lựa chọn được giải pháp hợp lý nhằm hạn chế thời gian ngừng cung cấp điện cho khách hàng, đảm bảo cho lưới điện vận hành liên tục, ổn định hơn và giảm doanh thu bán điện bị mất do ngừng cung cấp điện.
Trong đề tài này sẽ nghiên cứu đề xuất giải pháp sử dụng các tuyến cáp ngầm trung áp nối liên thông giữa các trạm biến áp 110kV khu vực Hà Nội. Từ đó, đánh giá sơ bộ về những hiệu quả đạt được trong công tác quản lý vận hành và kinh doanh điện năng của Công ty Điện lực thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong phạm vi đề tài là các trạm biến áp 110kV khu vực Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu Đánh giá độ tin cậy cung cấp điện của các trạm 110kV trước và sau khi sử dụng cáp ngầm trung áp liên thông giữa các trạm 110kV theo xác suất ngừng cung cấp điện. Căn cứ vào tình trạng tải hiện nay của các trạm biến áp 110kV, cùng với việc sử dụng các phương pháp dự báo nhu cầu phụ tải để đưa ra những dự báo phụ tải điện đến năm 2015 cho khu vực Hà Nội. Xây dựng các phương án kỹ thuật hợp lý và tiến hành phân tích kinh tế để lựa chọn ra phương án tốt nhất. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Sau khi nghiên cứu xây dựng thành công các tuyến cáp ngầm trung áp nối liên thông giữa các trạm biến áp 110kV sẽ giúp cho công tác điều độ, quản lý vận hành lưới điện trở nên thuận lợi nhiều hơn trong quá trình xử lý khắc phục sự cố, bất thường xảy ra trên lưới điện khu vực.
Đồng thời tạo Học viên: Nguyễn Hoàng Dương Lớp Cao học HTĐ 2004-2006 LUËN V¡N TèT NGHIÖP 5 được sự linh hoạt trong việc san tải, chuyển tải. Từ đó, hạn chế được hiện tượng quá tải trên đường dây và tại các trạm biến áp dẫn đến giảm tổn thất và giảm các nguy cơ gây ra sự cố. Nhờ có sự linh hoạt trong công tác điều độ vận hành lưới điện sẽ làm giảm thời gian ngừng cung cấp điện khi thực hiện kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ các thiết bị điện hay khi có sự cố xảy ra trên lưới điện. Về mặt sản xuất kinh doanh, khi thời gian ngừng cung cấp điện giảm, sản lượng điện mất do ngừng cung cấp điện cũng sẽ giảm, giúp cho doanh thu bán điện của công ty tăng lên, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đề ra.
Học viên: Nguyễn Hoàng Dương Lớp Cao học HTĐ 2004-2006 LUËN V¡N TèT NGHIÖP 6 CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG LƯỚI ĐIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2. Giới thiệu chung. Hà Nội là một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá lớn của cả nước, là một trong những thành phố đông dân và có sản lượng tiêu thụ điện năng cao. Năm 2005, sản lượng điện khu vực Hà Nội đạt trên 4,09 tỷ kWh tăng 8,08 % so với năm 2004, sản lượng ngày cao nhất đạt 15,597 triệu kWh với công suất đỉnh đạt 798,6 MW.
Nguồn điện 220kV cấp điện cho thành phố Hà Nội Nguồn cấp 220kV hiện nay có các trạm : - Trạm 220kV E3_Mai Động 2 x 250 MVA - Trạm 220kV E19_Sóc Sơn 125 MVA - Trạm 220kV E4_Ba La 2 x 250 MVA - Trạm 220kV E6_Chèm 2 x 40 MVA ; 25 MVA ; 63MVA Dự kiến xây dựng đến năm 2010 - Trạm 220kV Yên Phụ 1x250 MVA - Trạm 220kV Vân Trì 1x125 MVA Sẽ đáp ứng được nhu cầu về nguồn cho lưới điện Hà Nội. Lưới điện 110kV khu vực Hà Nội 2. Đường dây 110kV Các lộ đường dây 110kV cấp điện cho thành phố Hà Nội chủ yếu là các đường dây trên không với tổng chiều dài 299,053 km, chủ yếu dùng dây dẫn loại AC và ACSR có thiết diện từ 120mm2 đến 400mm 2. Số lượng thống kê cho trong bảng 2.
Học viên: Nguyễn Hoàng Dương Lớp Cao học HTĐ 2004-2006 LUËN V¡N TèT NGHIÖP 7 Bảng 2. Các lộ đường dây 110kV cấp cho khu vực Hà Nội Nguồn : Công ty Điện lực thành phố Hà Nội TT Tên đường dây ĐDK 171E1÷178E6; 172E1 ÷177E6 Chiều Khoảng Icp Loại dây dài Ghi chú cột (A) (km) 1. - Hai ĐDK đi song song 1÷20; AC185 510 chung cột. 23÷70 - Tại cột 24 nhánh rẽ vào 13,558 TBA 110kV E17.
ACSR400 20÷23 832 - Tại cột 29 nhánh rẽ vào TBA 110kV E24 ĐDK 174E1÷171E19 ACSR240 1÷168 26,560 Tại cột 102 nhánh rẽ vào 579 TBA 110kV E16 2. ĐDK 175E1÷173E19 AC120 1÷90 380 Tại cột 63 nhánh rẽ vào TBA 16,364 110kV E16 AC185 90÷97 510 ĐDK 180E1÷ 173E28; ĐDK 181E1÷174E28 - Hai ĐDK đi song song AC120 1÷70 13,890 380 chung cột 3. - Tại cột 75 nhánh rẽ vào TBA 110kV E2. AC185 70÷98 5,049 510 - Tại cột 98 nhánh rẽ vào TBA 110kV E15 ĐDK 171E3÷E18; ĐDK 172E3÷E18 - Hai ĐDK đi song song chung cột 4.
- Tại cột 23 nhánh rẽ vào AC185 1÷32 6,106 510 TBA 110kV E12. - Tại cột 32 nhánh rẽ vào TBA 110kV E18 5. ĐDK 173E3÷ 171E13; ĐDK 174E3÷172E13 AC185 1÷27 5,166 510 Học viên: Nguyễn Hoàng Dương Lớp Cao học HTĐ 2004-2006 LUËN V¡N TèT NGHIÖP 8 TT Tên đường dây ĐDK 175E3÷177E4; ĐDK 176E3÷178E4 - Hai ĐDK đi song song 6. chung cột AC185 1÷89 16,404 510 - Tại cột 57 nhánh rẽ vào TBA 110kV E10.
- Tại cột 66 nhánh đi Hà Tây ĐDK 177E3÷ 171E22; ĐDK 178E3÷172E22 7. Hai ĐDK đi song song ACSR240 1÷20 2,915 579 chung cột ĐDK 174E4÷172E6 AC185 1÷91 16,640 510 ĐDK 175E4÷ 172E14 - Tại cột 55_171E6 8. AC185 1÷111 20,317 510 (36_175E4) hai đường dây đi ĐDK 171E6÷ 171E14 song song chung cột - Tại cột 81_171E6 AC185 1÷129 24,129 510 (52_175E4) nhánh rẽ vào TBA 110kV E25. AC185 1÷49 8,504 510 ĐDK 176E4÷171E5 AC150 1÷37 8,087 445 ĐDK 175E6÷E18; ĐDK 176E6÷E18 1÷20; - Hai ĐDK đi song song AC185 70÷83; 8,320 510 chung cột 10.
- Tại cột 42 nhánh rẽ vào 84÷90 ACSR185 20÷70 9,750 510 TBA 110kV E21. - Tại cột 70 nhánh rẽ vào XLPE1x400 83÷84 0,650 470 TBA 110kV E8.