CHƯƠNG 1. Tổng quan Định nghĩa độ tin cậy cung cấp điện 1. Khái niệm chung về độ tin cậy Độ tin cậy là xác suất để đối tượng (hệ thống hay phần tử) hoàn thành nhiệm vụ chức năng cho trước, duy trì được các giá trị, các thông số làm việc đã được xác lập trong một giới hạn đã cho, ở một thời điểm nhất định, trong những điều kiện làm việc nhất định. Trong các công việc cũng như trong các hệ thống độ tin cậy trở thành chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng.
Lý thuyết độ tin cậy tồn tại và phát triển theo những hướng như sau: - Nghiên cứu cơ sở toán học về độ tin cậy nhằm đưa ra những quy luật và những tính toán định lượng về độ tin cậy. Đây là hướng xuất phát để tạo nên khoa học về độ tin cậy. - Nghiên cứu thống kê về độ tin cậy: Nhằm thu thập, xử lý tín hiệu và đưa ra những đặc trưng thống kê về chỉ tiêu độ tin cậy. Dựa trên tính chất đám đông của số liệu thống kê nhằm đưa ra những yếu tố ảnh hưởng đến những chỉ tiêu cơ bản về độ tin cậy.
- Nghiên cứu bản chất vật lý về độ tin cậy: Nhằm khảo sát nguyên nhân sự cố, hiện tượng già cỗi, điều kiện môi trường, độ bền vật liệu, v. làm ảnh hưởng đến độ tin cậy trong các quá trình vật lý và hóa học khác nhau. - Ngoài ra, mỗi ngành kỹ thuật đều xây dựng cho mình những cơ sở ứng dụng về lý thuyết độ tin cậy, trong đó sử dụng những phương pháp để tính toán cùng những biện pháp hợp lý nhằm nâng cao độ tin cậy. - Độ tin cậy bao gồm các vấn đề về lý thuyết và thực tế nhằm nghiên cứu những nguyên nhân, quy luật của sự cố, những phương pháp tính toán và biện pháp nâng cao độ tin cậy.
Ngoài ra khi lựa chọn độ tin cậy của hệ thống phải quan tâm đến yếu tố kinh tế để đạt được lời giải tối ưu và tổng thể. - Mô hình toán học đánh giá định lượng độ tin cậy dựa trên nền tảng lý thuyết xác suất vì các sự cố xảy ra với hệ thống là một sự kiện ngẫu nhiên, cũng như khoảng thời gian hệ làm việc, khoảng thời gian cần thiết để sửa chữa sự cố, v. đều là những đại lượng ngẫu nhiên. Độ tin cậy cung cấp điện Độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối được hiểu là khả năng của hệ thống cung cấp đầy đủ và liên tục điện năng cho hộ tiêu thụ, với chất lượng điện năng (điện áp và tần số) đảm bảo (đúng quy định).
Đây là một yếu tố cần thiết về chất lượng cung 4 cấp điện. Những yếu tố chính thường được dùng để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện tới khách hàng là tần suất mất điện hay cường độ mất điện, thời gian của mỗi lần mất điện và giá trị thiệt hại của khách hàng trong mỗi lần gián đoạn cung cấp điện. Độ tin cậy cung cấp điện là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng của hệ thống điện. Mô tả đánh giá và điều khiển hành vi đó là một trong những nhiệm vụ chủ yếu khi thiết kế và điều khiển hệ thống điện.
Đối với hệ thống điện và các phần tử của hệ thống điện, khái niệm khoảng thời gian không có ý nghĩa bắt buộc, vì hệ thống làm việc liên tục. Do đó độ tin cậy được đo bởi đại lượng thích hợp hơn, đó là độ sẵn sàng. Độ sẵn sàng là xác suất để hệ thống hay phần tử hoàn thành hoặc sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong thời điểm bất kỳ. Độ sẵn sàng cũng là xác suất để hệ thống ở trạng thái tốt trong thời điểm bất kỳ và được tính bằng tỷ số giữa thời gian hệ thống ở trạng thái tốt và tổng thời gian hoạt động.
Ngược lại với độ sẵn sàng là độ không sẵn sàng, là xác suất để hệ thống hoặc phần tử ở trạng thái hỏng. Các thành phần độ tin cậy cung cấp điện 1. Cường độ hỏng hóc của phần tử Cường độ hỏng hóc (t) là xác suất có điều kiện để một thiết bị làm việc trước thời gian t và phát triển thành sự cố trong đơn vị thời gian ∆t thời điểm t. Hàm cường độ hỏng hóc của thiết bị công suất.
Dạng hình “lòng máng” và được chia thành 3 giai đoạn: thời kỳ đầu, thời kỳ vận hành, thời kỳ thoái hóa. Hình 1-1: Hàm hỏng hóc Trong khoảng thời gian vận hành, cường độ hỏng hóc là hằng số. Cường độ hỏng hóc sẽ giảm dần khi thiết bị mới xuất xưởng, đây là thời gian kiểm tra, vận hành thử nghiệm. Và cường độ hỏng hóc sẽ tăng dần tại giai đoạn lão hóa.
Có thể định nghĩa cường độ hỏng hóc một cách đơn giản hơn: Cường độ hỏng hóc là số sự cố trên đơn vị thời gian. Cường độ hỏng hóc thường được biểu diễn bằng số sự cố xảy ra trên mỗi km chiều dài trong một năm. Cường độ sửa chữa (𝝁) của các thiết bị điện lực như máy phát, máy biến áp, đường 5 dây đều có thể sửa chữa để làm việc lại. Trong thời gian phục vụ, chúng có các trạng thái như: vận hành, sự cố, sửa chữa, quy hoạch, bảo trì,.
Định nghĩa cường độ sửa chữa: Xác suất có điều kiện để một thiết bị được sửa chữa trước thời gian t và được đưa vào vận hành trong đơn vị thời gian Δt. Thời gian trung bình giữa hỏng hóc (𝐦) Thời gian trung bình giữa hỏng hóc hay thời gian trung bình vận hành an toàn (MTBF-Mean time between failure). m = 1/𝜆 Thời gian sửa chữa trung bình (r) Thời gian sửa chữa trung bình (𝑀𝑇𝑇𝑅 − Mean time to repair) r = 1/𝜇 Xét trong một chu kỳ sự cố T Hình 1-2: Chu trình làm việc TB Xét một thiết bị đang ở trạng thái UP – trạng thái vận hành, thiết bị này sẽ có thời gian vận hành m, và xác xuất để thiết bị này bị sự cố là λ. Sau thời gian m, thiết bị chuyển sang trạng thái Down – trạng thái sửa chữa.
Sau thời gian sửa chữa r, thiết bị lại chuyển sang trạng thái UP, với xác xuất là . Khả năng sẵn sàng làm việc của thiết bị Hệ số sẵn sàng: 𝜇 A= 𝜆+𝜇 Hệ số không sẵn sàng (FOR): 6 𝜆 𝐴̅ = U = FOR = 𝜆+𝜇 1. Các chỉ số tin cậy của hệ thống Phần lớn các nước trên thế giới đang áp dụng các chỉ số SAIFI, SAIDI, CAIFI, CAIDI để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện. Hiện nay, Việt Nam đang triển khai áp dụng các chỉ số SAIDI, SAIFI, MAIFI để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện.
Các chỉ số về độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối tại Việt Nam được quy định tại điều 12, Thông tư 39/2015/TT-BCT Quy định hệ thống điện phân phối, cụ thể như sau: Khái niệm các chỉ số về độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối Các chỉ số về độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối bao gồm: a) Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối (System Average Interruption Duration Index - SAIDI); b) Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối (System Average Interruption Frequency Index - SAIFI); c) Chỉ số về số lần mất điện thoáng qua trung bình của lưới điện phân phối (Momentary Average Interruption Frequency Index - MAIFI). Ý nghĩa các chỉ số về độ tin cậy của lưới điện phân phối Các chỉ số về độ tin cậy của lưới điện phân phối được tính toán như sau: a) SAIDI được tính bằng tổng số thời gian mất điện kéo dài trên 05 phút của khách hàng sử dụng điện, đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện chia cho tổng số khách hàng sử dụng điện, đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện, xác định theo công thức sau: n T K i i SAIDI t i 1 (1.1) Kt 12 SAIDI y SAIDI (1.2) t 1 t Trong đó: - Ti: Thời gian mất điện lần thứ i trong tháng t (chỉ xét các lần mất điện có thời gian kéo dài trên 05 phút); 7 - Ki: Tổng số khách hàng sử dụng điện và các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong tháng t; - n: Tổng số lần mất điện kéo dài trên 05 phút trong tháng t thuộc phạm vi cung cấp điện của đơn vị phân phối điện; - Kt: Tổng số khách hàng sử dụng điện và các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện trong tháng t; - SAIDIt (phút): Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong tháng t; - SAIDIy (phút): Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong năm y. b) SAIFI được tính bằng tổng số lượt khách hàng sử dụng điện, đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện bị mất điện kéo dài trên 05 phút chia cho tổng số khách hàng sử dụng điện, đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện, xác định theo công thức sau: n K i SAIFI t i 1 (1.3) Kt 12 SAIFI y SAIFI t 1 t (1.4) Trong đó: - n: Tổng số lần mất điện kéo dài trên 05 phút trong tháng t thuộc phạm vi cung cấp điện của đơn vị phân phối điện; - Ki: Tổng số khách hàng sử dụng điện, các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong tháng t; - Kt: Tổng số khách hàng sử dụng điện và các đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện trong tháng t; - SAIFIt: Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong tháng t; - SAIFIy: Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối trong năm y. c) MAIFI được tính bằng tổng số lượt khách hàng sử dụng điện, đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện bị mất điện thoáng qua (thời gian mất điện kéo dài từ 05 phút trở xuống) chia cho tổng số khách hàng sử dụng điện, đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của đơn vị phân phối điện, xác định theo công thức sau: 8 n K i 1 i MAIFIt (1.5) Kt 12 MAIFI y MAIFI t 1 t (1.