mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng và chất lƣợng tín dụng ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng TMCP ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Thanh Xuân Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Thanh Xuân 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại 1. Ngân hàng thương mại a.
Khái niệm Quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thƣơng mại (NHTM), đƣợc biết đến với chức năng kinh doanh tiền tệ. Hơn bất cứ tổ chức tài chính nào khác, NHTM luôn đƣợc coi là bách hoá tài chính, cung ứng rất đa dạng các sản phẩm, dịch vụ về tài chính, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Mỗi quốc gia định nghĩa NHTM theo một cách riêng. Theo quy định của pháp luật Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Luật Ngân hàng của Ấn độ ban hành năm 1950, bổ sung năm 1959 đã quy định: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tƣ”. 7 Khái niệm NHTM của Luật Ngân hàng Đan Mạch 1930 căn cứ vào sự kết hợp với đối tƣợng hoạt động: “Những ngân hàng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thƣơng mại và các giá trị địa ốc, các phƣơng tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, bảo hiểm,…” Tại Việt Nam, theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 Số 47/2010/QH12 đƣợc Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010, ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ tài khoản thanh toán.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Trong đó, NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhƣ vậy, mục tiêu lợi nhuận chính là khác biệt cơ bản giữa ngân hàng thƣơng mại và các loại hình ngân hàng khác. Có thể nói khái niệm NHTM đƣợc xây dựng từ nhiều bình diện khác nhau.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, khái niệm về NHTM đƣợc xây dựng theo cách tiếp cận truyền thống qua chức năng và các hoạt động cơ bản. Nhƣ vậy, NHTM là loại hình ngân hàng trung gian mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế nhằm mục đích thu lơi nhuận. Đặc trưng của ngân hàng thương mại - Về cấu trúc tài chính và tài sản: NHTM là doanh nghiệp có quy mô lớn trên hai mặt vốn chủ sở hữu và tổng tài sản. Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thƣơng mại là hàng nghìn tỷ đồng.
Trên thế giới, vốn chủ 8 sở hữu lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ. Mạng lƣới các chi nhánh ngân hàng thƣờng rất lớn và phân tán rộng về địa lý. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của NHTM lại chủ yếu là nợ đƣợc huy động từ bên ngoài ngân hàng. Về cấu trúc tài sản, ngân hàng thƣơng mại có cấu trúc tài sản đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác ở tỷ trọng tài sản tài chính.
Phần lớn tài sản của NHTM là tài sản tài chính, mang đặc trƣng trừu tƣợng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí chỉ là dữ liệu điện tử đƣợc lƣu giữ trong một thiết bị nhất định. Bên cạnh đó, NHTM thƣờng có xu hƣớng liên tục phát triển các sản phẩm, công cụ tài chính mới. - Về rủi ro trong hoạt động kinh doanh: Doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ dẫn đến rủi ro trong hoạt động cũng cao. Bên cạnh đó, nguồn vốn nợ chủ yếu của NHTM lại là tiền gửi với đặc trƣng có thể bị rút ra trƣớc hạn với khối lƣợng khó xác định.
Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mang tính phức tạp, trực tiếp và không đƣợc hƣởng quy chế bảo hộ độc quyền. Hơn nữa, NHTM tham gia vào nhiều cam kết trong khi chƣa chuyển giao vốn thực sự, tức là hoạt động ngoại bảng phong phú và đa dạng. Vì những lý do này, hoạt động của NHTM chứa đựng nhiều rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác. Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan, bao gồm các loại rủi ro đặc thù nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,… - Về hoạt động giám sát, quản lý: NHTM là doanh nghiệp có quy mô lớn, mạng lƣới rộng khắp, hoạt động chịu nhiều rủi ro, ảnh hƣởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội.
Do đó NHTM chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp luật. Các quy định pháp lý đối với NHTM đƣợc phổ rộng trên nhiều mặt của hoạt động kinh doanh nhƣ: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của ngƣời lãnh đạo ngân hàng, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, 9 an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu tƣ cho tài sản cố định,… - Về tính liên kết và ổn định trong hệ thống: Hệ thống ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn. Hơn bất cứ ngành kinh doanh nào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lan toả rất nhanh. Hoạt động nhƣ một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần một NHTM, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống.
Thực tiễn đã cho thấy, thanh khoản đƣợc ví nhƣ hơi thở của sự sống của hoạt động NHTM. Mọi rủi ro, tổn thất trong hoạt động của NHTM đều có thể dẫn đến hậu quả cuối cùng là Ngân hàng mất khả năng thanh toán rồi phá sản. Hệ thống ngân hàng - tài chính trong nền kinh tế rất nhạy cảm với mọi biến động về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội. Những biến động này thƣờng có tác động gần nhƣ tức thời đến hoạt động của thị trƣờng tài chính, điển hình là thị trƣờng chứng khoán.
Theo đó, nó gây ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống ngân hàng. Đối với công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc nắm bắt đƣợc cơ chế hoạt động, ảnh hƣởng lẫn nhau của các phần tử trong hệ thống tài chính là một trong những vấn đề cốt yếu, quyết định thành bại. Do đó để thành lập và đƣa một ngân hàng đi vào hoạt động, bất cứ nhà sáng lập nào cũng đều phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện ngặt nghèo và chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực. Hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng thương mại Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM thực hiện các hoạt động cơ bản sau: a.
Hoạt động huy động vốn 10 Huy động vốn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chủ yếu từ nguồn vốn huy động chiếm khoảng 70 - 80% trên tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM. Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động chính của các doanh nghiệp này là sử dụng nguồn vốn trực tiếp tạo ra sản phẩm, hoạt động tạo ra sản phẩm dịch vụ là hoạt động chính. Tuy nhiên, NHTM nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, các tổ chức tín dụng khác hoặc phát hành các giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu), hoặc đi vay từ các tổ chức tín dụng khác và ngân hàng nhà nƣớc.
Đây là cơ sở giúp phân biệt ngân hàng với với các loại hình doanh nghiệp khác. Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động cho vay: Đây là hoạt động NHTM sử dụng số vốn huy động đƣợc để thực hiện cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu của các khách hàng khác nhau trong nền kinh tế nhƣ nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện các dự án đầu tƣ hoặc để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong thanh toán của các tổ chức kinh tế, cá nhân. Khi thực hiện hoạt động này ngân hàng phải đảm bảo thu hồi đủ vốn và lãi. Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã huy động đƣợc số tiền tạm thời chƣa sử dụng của các chủ thể trong nền kinh tế và sử dụng số vốn đó để cho vay trong nền kinh tế.
Khi ngân hàng làm chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng trở thành cầu nối quan hệ pháp lý giữa ngân hàng và ngƣời đi vay. Hoạt động này chịu sự kiểm soát của NHNN. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của NHTM không chỉ dừng lại ở việc thực hiện hoạt động tín dụng truyền thống cơ bản, mà còn cung cấp các hoạt động khác, điển hình nhƣ hoạt động đầu tƣ. NHTM sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình đầu tƣ kiếm lời.