CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN DỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm Hoạt động ngân hàng, với các nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ra đời khi quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hóa của xã hội đã phát triển ở mức độ cao. Quá trình hoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng và sự ra đời của một ngân hàng hoàn chỉnh kéo dài hàng nghìn năm, bắt đầu từ hoạt động ngân hàng sơ khai vào khoảng 3.500 năm trước Công nguyên cùng với sự khởi đầu của các thiết chế tổ chức xã hội.
“NHTM là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp dịch vụ ngân hàng cho nền KTQD”. Ngày nay, hoạt động của các tổ chức môi giới trên thị trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng, quy mô, hoạt động đa dạng phong phú và đan xen lẫn nhau. Điểm khác biệt giữa NHTM và các tỏ chức tài chính khác là NHTM là Ngân hàng kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là các loại tiền gửi, kể cả tiền gửi không kỳ hạn, cung ứng các dịch vụ thanh toán còn các tổ chức tài chính khác không thực hiện chức năng đó. Chức năng của NHTM.
* Chức năng trung gian tín dụng. Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người cần vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời là cơ sở để quyết định các chức năng khác. Tôn Quang Đức 3 Lớp: Ngân hàng CQ/15.01 Chuyên đề cuối khoá * Chức năng trung gian thanh toán. NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây, NHTM đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ.
Việc NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. * Chức năng tạo tiền. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Khả năng tạo tiền của các NHTM Như chúng ta đã biết, với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, các NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện Tôn Quang Đức 4 Lớp: Ngân hàng CQ/15.01 Chuyên đề cuối khoá trên các tài khoản tiền gửi của khách hàng. Khi Ngân hàng Trung ương (ở Việt Nam hiện nay là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phát hành tiền ra lưu thông qua thị trường tiền tệ (cấp vốn, tái cấp vốn), thị trường mở (mua bán chứng khoán nợ), hoặc qua thị trường ngoại hối (mua bán ngoại tệ). thì lượng tiền này sẽ nằm trong lưu thông chủ yếu dưới dạng tiền gửi của các tổ chức, cá nhân tại các NHTM và tiền mặt trong lưu thông.
Từ khoản tiền vốn (tiền gửi, tiền vay) tăng lên ban đầu này, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống NHTM có khả năng tạo nên số tiền gửi gấp nhiều lần so với số vốn tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào số nhân tiền. Trong thực tế, hệ số này chịu tác động bởi các yếu tố chính như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ thanh toán (tiền gửi tại NHNN và tiền mặt tại quỹ) trên tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tỷ lệ giữ tiền mặt trên tổng số cung tiền trong dân cư. Để có một cái nhìn thực tế hơn, tạm giả thiết như sau (tính theo lý thuyết tiền tệ hiện đại): - Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bình quân cho các loại tiền gửi ở các NHTM gửi tại NHNN là: 7%.
- Tỷ lệ dự trữ thanh toán bình quân của các NHTM (gồm tiền gửi tại NHNN và tiền mặt tồn quỹ) là 8%. - Tỷ lệ giữ tiền mặt trên tổng số cung tiền trong dân cư là: 10%. - Như vậy, hệ số nhân tiền sẽ là: mM = 1/(7% + 8% + 10%) = 4 Kết quả tính toán cho thấy: cứ một đồng vốn mà NHNN phát hành vào lưu thông được gửi vào một NHTM thì hệ thống các NHTM có thể tạo ra một lượng tiền gửi để cho vay lên tới 4 đồng. Đồng thời, NHNN cũng đã thu về ngay 28% số lượng tiền phát hành ra thông qua số tiền dự trữ bắt buộc tăng thêm của các NHTM.
Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại 1. Huy động vốn Đây là nghiệp vụ đầu tiên, là sự khởi tạo cho hoạt động của Ngân hàng. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao do đó các Ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động vốn cho vay. Với chức năng này, Ngân hàng đóng vai Tôn Quang Đức 5 Lớp: Ngân hàng CQ/15.01 Chuyên đề cuối khoá trò là nhân tố tập hợp các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thông qua các hình thức: -Nhận tiền gửi của cá nhân và tổ chức kinh tế: Đây là nguồn tiền chiếm tỷ lệ chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
-Nguồn đi vay: Trong quá trình kinh doanh, đôi khi Ngân hàng thương mại có thể cũng lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả hay nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hang thương mại có thể vay Ngân hang nhà nước, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường lien Ngân hang…Đây là nguồn vốn cần thiết và quan trọng, vì nó đáp ứng được kịp thời và đảm bảo cho hoạt động của Ngân hang diễn ra một cách lien tục. Hoạt động sử dụng vốn Vốn huy động sẽ được Ngân hàng đầu tư vào các khoản mục tài sản khác nhau, nhằm đạt được mục tiêu mà Ngân hàng đề ra. Nhìn chung sẽ được sử dụng vào các hoạt động sau: -Hoạt động tín dụng: Hoạt động này đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các Ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng chủ yếu và là hoạt động cơ bản của mọi Ngân hàng.
-Các hoạt động đầu tư khác: Hoạt động này rất đa dạng và góp phần làm tăng them thu nhập cho các Ngân hàng. Đó là hình thức Ngân hàng tham gia vào hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các công ty, lien doanh liên kết, mua bán chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro, đem lại nhiều lợi nhuận cho các Ngân hàng.Các hoạt động khác Ngân hàng thương mại thực hiện các ủy nhiệm của khách hàng trong giao dịch thanh toán, chuyển tiền, thu hộ, môi giới và nhận một khoản thu nhập về việc làm trung gian đó. Những vấn đề chung về tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại. Khái niệm tín dụng trung và dài hạn Đối với NHTM thì hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất vãn là hoạt động cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
Tôn Quang Đức 6 Lớp: Ngân hàng CQ/15.01 Chuyên đề cuối khoá Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa ) giữa bên cho vay ( Ngân hàng và các định chế tài chính khác ) và bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể sản xuất kinh doanh khác ), trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận , bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán theo hợp đồng. Để tiện cho việc quản lý, các Ngân hàng thường phân loại tín dụng theo nhiều tiêu chí khác nhau như : Theo mục đích vay, theo thành phần kinh tế, theo đối tượng…và theo thời gian tín dụng. Trong đó, phân loại theo thời gian tín dụng thì tín dụng Ngân hàng được chia thành tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn. Trong đó, Tín dụng trung dài hạn là các khoản vay của Ngân hàng có thời hạn trên một năm nhưng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành bằng vốn vay Ngân hàng.
Đặc điểm tín dụng trung, dài hạn. Xét về bản chất, tín dụng trung và dài hạn khác so với tín dụng ngắn hạn là ở thời gian dài.