Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại. Chưong 2: Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2015-2017. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2018-2020. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại và nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1.Khái niệm về Ngân hàng thương mại Lịch sử ra đời của NHTM gắn liền với lịch sử phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiền tệ qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Hoạt động Ngân hàng thủa ban đầu có nguồn gốc từ hoạt động lưu giữ hộ, thanh toán chi trả hộ, sau đó là phát triển hoạt động cho vay và các loại hình dịch vụ khác từ những người thợ kim hoàn.Trải qua thời gian, những người giữ hộ đã trở thành nhà Ngân hàng thực thụ với ba nghiệp vụ cơ bản gồm: Nhận tiền gửi, thanh toán hộ và cấp tín dụng cho khách hàng của mình cùng việc phát triển các nghiệp vụ Ngân hàng khác. Mặc dù ngày nay, đã có nhiều tổ chức tài chính như công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty tài chính…có khả năng cung cấp một phần các dịch vụ của Ngân hàng song NHTM vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có các định nghĩa khác nhau về NHTM. Xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp.Rose định nghĩa : “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
[3] Xét trên các hoạt động chủ yếu của NHTM, theo Luật các TCTD ngày 16/16/2010 thì NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận và hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. [17] Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể thấy NHTM là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với các nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay. Ngoài ra, NHTM còn thực hiện chức năng thanh toán và cung cấp nhiều dịch vụ khác. 4 Ngày nay, trên thị trường tài chính- tiền tệ, các loại hình tổ chức tham gia hoạt động đan xen một cách đa dạng và phong phú, một số loại hình TCTD khác.
( TCTD phi ngân hàng) cũng thực hiện một số nghiệp vụ của NHTM. Tuy nhiên, các tổ chức này không nhận tiền gửi không kỳ hạn và không làm dịch vụ thanh toán. Đó chính là tiêu chí để phân biệt NHTM với các TCTD khác. Chức năng của Ngân hàng thương mại NHTM là tổ chức nhận tiền gửi đóng vai trò là trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn dưới hình thức các khoản vay trực tiếp.
Các NHTM huy động vốn chủ yếu dưới dạng : Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá. Vốn huy động được dùng để cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay bất động sản và để mua chứng khoán. NHTM dù ở quốc gia nào cùng là nhóm trung gian tài chính lớn nhất và là nhóm tổ chức tài chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất. Không chỉ vậy, ngân hàng còn có những chức năng riêng nó mà không một tổ chức tín dụng nào được phép có.
NHTM có ba chức năng cơ bản đó là: -Chức năng tạo tiền: Các NHTM trong quá trình thực hiện các chức năng của mình có khả năng tạo ra tiền tín dụng ( hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM hay các khoản nhận nợ. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch. Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, NHTM có khả năng tạo nên số tiền gửi ( tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi.
Hệ số này đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố : tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng. -Chức năng trung gian tín dụng: Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu với cá nhân và tổ chức thặng dư tròn chi tiêu. Nói cách khác, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn như sơ đồ 1.1 sau 5 Gửi tiền uỷ Cho vay Người có vốn Ngân hàng thương mại Người cần vốn thác đầu tư Đầu tư Sơ đồ: 1. Vai trò cầu nối về vốn của NHTM Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là các khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ về sự an toàn của khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi. Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ. Đặc biệt đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. -Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân.Với chức năng này, NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán , thẻ tín dụng , thẻ ATM… Chức năng này đã thức đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản an toàn trong thanh toán… đồng thời NHTM thu được nguồn phí thanh toán. Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại Cùng sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động của NHTM ngày càng đa dạng, tuy nhiên nhìn chung các ngân hàng đều có những hoạt động cơ bản sau: -Huy động vốn: Là một trong những nghiệp vụ quan trọng của NHTM nhằm tạo nguồn vốn phục vụ hoạt động cho vay.
Một trong những nguồn vốn quan trọng nhất là: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán các tổ chức và dân cư. Ngoài ra, 6 NHTM có thể vay vốn từ ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng và trung gian tài chính khác hoặc phát hành các giấy tờ có giá để vay từ công chúng. -Tín dụng: Đây là nghiệp vụ mang lại phần lớn lợi nhuận cho các NHTM Việt Nam. Tín dụng là hoạt động cung ứng vốn của ngân hàng cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thoả thuận các điều kiện vay vốn của ngân hàng.
-Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, NHTM phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dư trữ bắt buộc theo quy định. -Các dịch vụ ngân hàng khác: Ngoài các dịch vụ truyền thống như : huy động vốn. cho vay, dịch vụ thanh toán, ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ khác như: Kinh doanh ngoại hối; cho thuê tủ két, tư vấn tài chính, môi giới đầu tư chứng khoán, bảo lãnh, phát hành chứng khoán, bán các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các kế hoạch hưu trí, quản lý tiền mặt, các dịch vụ uỷ thác và tư vấn….
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.Khái niệm tín dụng Tín dụng đựơc coi là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM vì phần lớn lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu là thu từ hoạt động này. Theo thống kê tại Việt Nam, khoảng 70% thu nhập của NHTM từ các hoạt động tín dụng.Thành công hay thất bại của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện ké hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng.Vai trò của tín dụng Ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn của doanh nghiệp. Tín dụng là cầu nối giữa bên thừa vốn và bên thiếu vốn tạm thời, góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục, không bị gián đoạn.