phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Tổng quan về chất lƣợng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề cơ bản về tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng thƣơng mại 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Hiện nay trên phƣơng diện lý thuyết có nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định. Ví dụ nhƣ: Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tƣ do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nƣớc bằng các loại luật và chính sách thực thi.
Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó ngƣời ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trƣờng những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận đƣợc khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy (M. Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng ngƣời sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vƣợt qua những thời kỳ nguy kịch và ngƣợc lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vƣợt qua đƣợc (trích từ sách Kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992). Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận đƣợc tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu.
Các bộ phận tập hợp 17 trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thƣơng mại, tổ chức, nhân sự. Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dƣới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phƣơng diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trƣờng, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy một doanh nghiệp nhất thiết phải đƣợc cấu thành bởi những yếu tố sau đây: * Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhƣ các bộ phận sản xuất, bộ phận thƣơng mại, bộ phận hành chính. * Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tƣ, thông tin.
* Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thƣơng mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. * Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nƣớc, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tƣơng lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu đƣợc. Từ cách nhìn nhận nhƣ trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp nhƣ sau: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Đặc điểm của doanh nghiệp Một doanh nghiệp thƣờng có các đặc điểm sau: Thứ nhất, doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tƣ cách pháp nhân.
Tƣ cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nƣớc khẳng định và xác định. Việc khẳng định tƣ cách pháp nhân của doanh nghiệp với tƣ cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó đƣợc nhà nƣớc bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với ngƣời tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nƣớc, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc 18 thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể. Thứ hai, doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phƣơng nơi nó tồn tại.
Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của ngƣời sáng lập (tƣ nhân, tập thể hay Nhà nƣớc); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lƣợng quản lý của những ngƣời tạo ra nó. Thứ ba, doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phƣơng nhất định, sự phát triển cũng nhƣ suy giảm của nó ảnh hƣởng đến địa phƣơng đó. Vai trò của doanh nghiệp Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP).
Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bƣớc phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trƣởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội nhƣ: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo,. Doanh nghiệp thể hiện vai trò tích cực trên một số phƣơng diện nhƣ sau: Thứ nhất, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của ngƣời lao động. Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyết đƣợc nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho ngƣời lao động. Đặc biệt, ở các địa phƣơng thu hút đƣợc nhiều vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣ tỉnh Bắc Ninh, số lƣợng các khu công nghiệp và doanh nghiệp tăng nhanh, góp phần giải quyết nhu cầu việc làm của một số lƣợng lớn lao động trong địa bàn tỉnh, đồng thời thu hút lao động từ các tỉnh thành khác đến làm việc.
Thứ hai, doanh nghiệp tăng trƣởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trƣởng cao và ổn định của nền kinh tế. Doanh nghiệp phát triển nhanh những năm gần đây đã làm cho tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào GDP tăng nhanh. Lợi ích cao hơn mà tăng trƣởng doanh nghiệp đem 19 lại là tạo ra khối lƣợng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lƣợng tốt hơn, thay thế đƣợc nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nƣớc và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển. Thứ ba, doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành.
Trƣớc năm 2000, doanh nghiệp phát triển chủ yếu trong ngành công nghiệp với vai trò quyết định là doanh nghiệp nhà nƣớc, các ngành khác hoạt động của cá thể, hộ gia đình là chính, chiếm từ 85-95% sản lƣợng toàn ngành (nhƣ nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, thƣơng mại. Ðến năm 2002, hoạt động của loại hình doanh nghiệp có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh; trong đó, doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chiếm trên 90% giá trị sản xuất toàn ngành, thƣơng mại, khách sạn nhà hàng chiếm từ 20-30%, xây dựng, vận tải trên 60%, hoạt động tài chính ngân hàng chiếm 95-98%,. Một số ngành nhƣ hoạt động khoa học và công nghệ, văn hoá, thể thao, cứu trợ xã hội, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng, cũng xuất hiện trên 500 doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực này. Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phƣơng đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn.
Thứ tư, phát triển doanh nghiệp tác động đến giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội. Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lƣợng hàng hoá, dịch vụ đƣợc nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cƣ và tăng nhanh lƣợng hàng hoá xuất khẩu. Nhiều sản phẩm trƣớc đây thƣờng phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã đƣợc các doanh nghiệp sản xuất thay thế và đƣợc ngƣời tiêu dùng trong nƣớc tín nhiệm nhƣ: Ô tô, xe máy, phƣơng tiện vận tải, các mặt hàng đồ điện, điện tử, 20 may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đình, sản phẩm phục vụ xây dựng,. Thứ năm, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện an sinh xã hội.
Thực hiện an sinh xã hội là một nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một vấn đề khá cũ đối với các nƣớc phát triển nhƣng còn khá mới mẻ và nó đang đƣợc quan tâm ở Việt Nam hiện nay.