CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm, sự hình thành và phát triển của NHTM 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. Luật số 02/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” (Điều 10 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng). Như vậy có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đòng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.2 Sự hình thành và phát triển của NHTM Từ xa xưa hàng ngàn năm trước công nguyên, khi mới hình thành manh nha nghề ngân hàng, cho đến tận thế kỷ XVIII thì không có sự phân biệt đó: các ngân hàng hoạt động độc lập và đơn điệu, không có mối liên hệ với nhau, nhưng hoạt động đều giống nhau về nội dung và tính chất, bao gồm nhận kí thác, cho vay, chiết khấu, nghĩa là trong thời kỳ từ thế kỉ XVIII trở về trước chỉ tồn tại trong nền kinh tế một hệ thống ngân hàng duy nhất- hệ thống Ngân Hàng Trung gian.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa hệ thống ngân hàng đã từng bước phát triển và hoàn thiện dần. Trong sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống ngân hàng chúng ta thấy rõ mối liên hệ hữu cơ giữa sự phát triển của hệ thống ngân hàng với sự phát triển hệ thống lưu thông tiền tệ. Chính hệ thống lưu thông tiền tệ bắt đầu từ hình thái tiền đúc bằng kim loại quý đã làm nảy sinh nghề ngân hàng cách đây hàng ngàn năm để từ đó qua nhiều thế kỉ, hệ thống ngân hàng được hình thành. Có thể khái quát quá trình hình thành ngân hàng bằng quy trình sau: Lưu thông tiền đúc → Tiền đúc bị hao mòn→ Gây khó khăn cho lưu thông trao đổi hàng hóa→ Làm nảy sinh nghề đổi tiền đúc→ Thu nhận và bảo quản tiền→ Cho vay→ Phát triển 11 các hoạt động dịch vụ.
Qua quy trình này có thể tóm tắt quá trình hình thành ngân hàng thương mại gắn liền với nội dung hoạt động nó qua các giai đoạn như sau: Giai đoạn đầu: Giai đoạn sơ khai hình thành nghề ngân hàng: Vào thời kỳ trước công nguyên khoảng 3500 năm khi các cuộc chiến tranh triền miên giữa các bộ tộc, tình trạng cướp bóc tranh giành ảnh hưởng trong xã hội ngày càng phổ biến; tiền đúc bằng kim loại (đồng, bạc, vàng) đã xuất hiện trong lưu thông tuy còn rất đơn giản, làm nảy sinh hai yêu cầu: Một là: Làm sao bảo vệ an toàn tiền bạc của mình trong điều kiện có cướp bóc và chiến tranh xảy ra một cách phổ biến. Hai là: Làm sao để chuyển đổi những đồng tiền bị hao mòn thành những đồng tiền có đầy đủ trọng lượng để lưu thông bình thường: Để đáp ứng yêu cầu này chỉ có thể là các chùa chiền, các nhà thờ và những người quyền quý trong xã hội, những thợ kim hoàn… Nghề ngân hàng ra đời ban đầu với nghiệp vụ đơn giản: nhận bảo quản tiền và được trả thù lao bảo quản; đổi chác tiền đúc và ăn hoa hồng đổi tiền. Cùng với sự phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hóa, hoạt động của những người bảo quản và đổi chác tiền đúc đã có tiến triển thêm một bước mới cho đến thế kỷ thứ XWIII trước công nguyên. Họ không những thu nhận bảo quản, đổi tiền mà còn sử dụng số tiền bảo quản đó để cho vay, họ không những cho vay bằng tiền mặt mà còn sử dụng chứng thư thay tiền mặt.
Điều đó đã làm cho hoạt động của ngân hàng sơ khai trở nên phong phú hơn trước và thuật ngữ ngân hàng bắt đầu xuất hiện từ đó. Đây chính là những ngân hàng cho vay nặng lãi. Từ thế kỷ thứ III trước công nguyên, với sức mạnh của một đế chế lớn, La Mã đã chinh phục nhiều nước về chính trị quân sự. La Mã trở thành một đế quốc giàu có bậc nhất lúc bây giờ vì vậy hoạt động của ngân hàng thương mại được mở rộng hơn.
Chính quyền La Mã cho phép những người hành nghề ngân hàng mở tiệm kinh doanh trên các đường hè phố tại các trung tâm kinh tế, thương mại, phương tiện chủ yếu cho công việc kinh doanh ấy là những các bàn dài được nhiều ngăn để cất giữ bảo quản tiền, các loại tài sản và sổ sách giấy tờ…Những cái bàn ấy theo tiếng La Tinh là Bancus để ám chỉ phương tiện và nghề nghiệp của các nhà ngân hàng. Giai đoạn 2: Hoạt động ngân hàng trong thời kỳ từ thế kỉ thứ V đến X sau công nguyên đã có những bước phát triển mới tiến bộ so với giai đoạn sơ khai. Các chủ ngân hàng biết cách sử dụng số hiệu tài khoản để ghi chép theo dõi tiền gửi của các thân chủ, 12 sử dụng tài khoản để ghi chép theo dõi số tiền vay, số tiền thu nợ, tính lãi… Đây được coi là giai đoạn 2 trong lich sử phát triển ngân hàng thương mại- nghiệp vụ bù trừ cũng được các chủ ngân hàng biết cách sử dụng trong các giao dịch thanh toán giữa các đối tượng và mang lại kết quả đấng khích lệ. Trong thời kỳ từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVI sau công nguyên, các nghiệp vụ ngân hàng cũng đã phát triển đa dạng và phong phú, nghiệp vụ chuyên ngân đã được thực hiện, mang lại những tiện ích lớn lao cho những thương nhân nói riêng và cho xã hội nói chung.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, thương mại, thị trường nội địa không những được củng cố phát triển mà còn từng bước hình thành thị trường quốc tế, thì hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng và phong phú. Giai đoạn 3: Bắt đầu từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX hệ thống ngân hàng các nước phát triển rất nhanh chóng. Chính giai đoạn phát triển này cùng với cuộc chạy đua trong cạnh tranh giữa các ngân hàng đã từng bước hình thành nên hai hệ thống ngân hàng: hệ thống ngân hàng phát hành sau đó phát triển thành ngân hàng trung ương và hệ thống ngân hàng thương mại. Như vậy qua lịch sử phát triển của ngân hàng một mặt cho thấy quá trình hình thành ngân hàng thương mại không những là do yêu cầu khách quan của nền kinh tế hàng hóa mà còn là sự phát triển tự hoàn thiện của hệ thống ngân hàng.
Kinh tế- xã hội càng phát triển thì hệ thống ngân hàng ngày càng được hình thành và hoàn thiện. Tóm lại: Qua sự phân tích lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng trung gian có thể nói ngân hàng thương mại hình thành qua hai con đường: Con đường thứ nhất: Những người chuyên làm nghề kinh doanh tiền đúc (bảo quản, đổi tiền) dần dần tích lũy được một số vốn, chuyển sang hoạt động cho vay nặng lãi, rồi cùng với sự phát triển của xã hội với sức ép từ phía nhà nước và Giáo hội, họ từng bước hạ thấp lãi suất cho vay, mở rộng các hoạt động nghiệp vụ để hình thành các ngân hàng cổ từ thế kỷ XVIII trở về trước. Đây là con đường phát triển lâu dài hàng nghìn năm từ thời trung cổ. Con đường thứ 2: Các nhà kinh doanh trong lĩnh vực công thương nghiệp, dịch vụ đứng trước gánh nặng lãi suất của ngân hàng cho vay nặng lãi, đã làm cho họ phải hợp lực với nhau, hùn vốn, góp vốn để lập ra các Hội tín dụng và sau đó phát triển thành các NHTM để hoạt động kinh doanh ngân hàng với lãi suất thích hợp và vừa phải.
Những ngân hàng loại này ra đời vào khoảng giữa cuối thế kỷ XVI trở về sau. 13 Ở Việt Nam: thời kỳ phong kiến chưa có các tổ chức tín dụng tuy có tồn tại vài tổ chức cho vay nặng lãi, các nhà cầm đồ nhưng nhìn chung chưa hình thành hệ thống tín dụng như ở các nước. Mãi đến năm 1897 mới thành lập Ngân hàng Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp. Đây là ngân hàng đầu tiên được thành lập ở Việt Nam để thực hiện việc phát hành tiền.
Đồng thời thực hiện các hoạt động của một ngân hàng thương mại. Năm 1954 Ngân hàng Đông Dương chấm dứt sự hoạt động và sự tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam. Sau cách mạng tháng 8 thành công, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời thì nhà nước VIệt Nam cũng từng bước xâu dựng hệ thống tài chính- ngân hàng để phục vụ sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Ngày 6/5/1951 thành lập ngân hàng quốc gia Việt Nam theo sắc lệnh số 15/LCT của chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến năm 1961 đổi tên thành ngân hàng nhà nước Việt Nam cho đến nay.2 Chức năng, nhiệm vụ, vị trí của ngân hàng thương mại trong hệ thống tài chính.1 Chức năng Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng phát triển, các NHTM thực hiện 3 chức năng sau đây: 1.1 Trung gian tín dụng Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM nó không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM.
Trong chức năng “ trung gian tài chính” NHTM đóng vai trò là người trung gian đứng ra tập trung huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế ( bap gồm tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn bằng tiền của các đơ vị tổ chức tài chính kinh tế.) biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay ( cấp tín dụng) đáp ứng các nhu cầu về vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội. NHTM chỉ là người trung gian để chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa sang nơi thiếu. Các chủ thể tham gia gồm những người gửi tiền vào NHTM và những người vay tiền từ ngân hàng không có mối liên hệ kinh tế trực tiếp nào.