Chương I của đề tài sẽ giới thiệu những nét cơ bản về QTDND để hiểu rõ hơn về các đặc điểm, nguyên tắc, mục tiêu hoạt động và vai trò của QTDND đối với nền kinh tế và xã hội, đồng thời cũng làm rõ về hệ thống pháp chế và các công cụ QLNN đối với QTDND. Tổng quan về QTDND 1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, mục tiêu hoạt động của QTDND 1. Khái niệm về QTDND Phong trào Hợp tác xã nói chung và Hợp tác xã tín dụng nói riêng khởi phát từ cuối thế kỷ XIX ở Châu Âu và lan rộng trên phạm vi toàn thế giới.
Ngày nay, Hợp tác xã hoạt động và phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực khác nhau ở các nước trên thế giới. Chính phủ các nước thừa nhận công khai sự đóng góp đặc biệt cả về số lượng và chất lượng của phong trào HTX đối với kinh tế và xã hội của đất nước, thông qua việc phục vụ nhu cầu của các thành viên và cộng đồng, góp phần vào phát triển đất nước, 2 giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển cộng đồng và nông thôn, phát triển xã hội, Hợp tác xã cũng là ví dụ điển hình của việc quản lý một cách dân chủ, góp phần tạo ra sự bình đẳng, công bằng xã hội và dân chủ. QTDND vừa là một tổ chức HTX vừa là một TCTD. Để tìm hiểu rõ khái niệm QTDND với tư cách là mô hình HTX trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, cần lần lượt làm rõ các khái niệm sau: - Khái niệm Hợp tác xã: Trên thế giới, HTX ra đời từ rất sớm, nó là sản phẩm của sự hợp tác tự nguyện giữa các thành viên, hoạt động theo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ và thông qua hoạt động kinh doanh của mình phục vụ lợi ích cho các thành viên tham gia.
Lê- Nin nhấn mạnh, bản chất của HTX là “Hợp tác”, Hợp tác xã dựa trên cơ sở hợp tác, hợp tác có ý nghĩa xã hội chủ nghĩa. HTX phải dựa trên cơ sở tự nguyện, sự tham gia “tự giác” của quần chúng chân chính và dựa trên cơ sở “lợi ích”, “thiết thực” từ việc tham gia HTX. Hồ Chí Minh cũng đã đề cập về vai trò của HTX trong tác phẩm “Đường kách mệnh” viết vào năm 1927. Giải thích về bản chất HTX, Bác viết: Nếu chúng ta đứng riêng ra, thì sức nhỏ, mà làm không nên việc.
Thí dụ mỗi ngƣời mang một cái cột, một tẩm tranh ở riêng mỗi ngƣời một nơi, thì lều chẳng ra lều, nhà chẳng ra nhà. Nhóm những cột ấy, tranh ấy, sức ấy, làm ra một cái nhà rộng rãi bề thế rồi anh em ở chung với nhau. Ấy là hợp tác. Lại thí dụ 10 ngƣời muốn ăn cơm, mỗi ngƣời riêng một nồi, nấu riêng một bếp, nấu rồi ăn riêng, ăn rồi ai nấy dọn dẹp riêng của ngƣời ấy, thể thì mất biết bao nhiêu củi, nƣớc, công phu và thì giờ.
Hợp tác xã là “góp gạo thổi cơm chung” cho khỏi hao của, tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ. Như vậy có thể nói rằng tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX trong “Đƣờng kách mệnh” phù hợp với lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về HTX, biểu hiện sinh động 3 của sự gặp gỡ văn minh phương Đông nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng với phương Tây, cần phải được quán triệt sâu sắc trong Đảng và trong xã hội ta. Đảng ta, trong thời kỳ đổi mới, đã đề ra nhiều chủ trương và quan điểm về đổi mới tổ chức HTX. Nghị quyết Đại hội IV năm 1976 sau khi phân tích nhược điểm của công tác tổ chức, quản lý HTX đã chỉ rõ phải: “Phát huy quyền tự chủ của HTX và quyền làm chủ tập thể của thành viên, khắc phục tệ mệnh lệnh, gò ép, trái với nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ”.
Chỉ thị số 67-CT/TW của Ban bí thư (Khóa V) ngày 22/6/1985 nêu rõ “Cần chuyển hẳn công tác quản lý HTX sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa… xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp… hợp tác xã phải nắm vật tƣ chủ yếu và cung cấp kịp thời cho xã viên…”. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị khẳng định: “hợp tác xã, tập đoàn sản xuất là tổ chức kinh tế tự nguyện của nông dân,…, hoạt động theo nguyên tắc tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất - kinh doanh, có tƣ cách pháp nhân bình đẳng trƣớc pháp luật,. Nghị quyết Đại hội VII, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2001 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi của HTX. Từ đó, địa vị pháp lý của HTX trong nền kinh tế cũng ngày càng được củng cố bằng pháp luật của Nhà nước.
Kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX đã thông qua Luật HTX, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Theo đó, Luật HTX năm 1996 đã định nghĩa: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những ngƣời lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.” 4 Nghị quyết Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng của lĩnh vực kinh tế HTX, tiếp tục khuyến khích phát triển mô hình kinh tế HTX trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Qua tổng kết thực tiễn gắn với tiến trình đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN và để thể chế hoá chủ trương của Đảng bằng pháp luật, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Khoá XI, kỳ họp thứ 4 đã ban hành Luật HTX năm 2003 (thay thế Luật HTX năm 1996): “HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. HTX hoạt động nhƣ một loại hình doanh nghiệp, có tƣ cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.” Nghị quyết Đại hội IX, X, XI, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, 2010 – 2020 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tự nguyện dân chủ, bình đẳng và công khai, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi, hợp tác phát triển cộng đồng.
Theo đó, Luật HTX 2012 được Quốc hội Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Khoá XIII, kỳ họp thứ 4 là cơ sở pháp lý quan trọng tạo tiền đề cho việc nhận thức thống nhất về bản chất tổ chức HTX (thay thế Luật HTX 2003): “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tƣ cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tƣơng trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.” 5 - Khái niệm TCTD, TCTD là HTX Theo luật pháp Việt Nam, TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Các TCTD và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. TCTD gồm: ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và QTDND. Trong khi đó, TCTD là HTX là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã gồm NH HTX, QTDND.
Vậy, theo Luật TCTD 2010, “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dƣới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Đặc điểm hoạt động của QTDND - Sự ra đời mô hình QTDND trên cơ sở phát triển mô hình TCTD hợp tác: QTDND là một loại hình TCTD hợp tác ra đời ở Việt Nam trên cơ sở Quyết định số 390/TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai Đề án thí điểm thành lập QTDND tại Việt Nam. Đề án nêu rõ: Nông nghiệp, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đối với nước ta. Do vậy, tổ chức lại và phát huy có hiệu quả hoạt động của HTX TD là một trong những giải pháp có tầm quan trọng hàng đầu trong việc đáp ứng yêu cầu vốn ngày càng lớn và cấp bách theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội cũng như yêu cầu triển khai thực hiện chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn.
6 Ở Việt Nam loại hình tín dụng Hợp tác xã đã hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm từ 1956 đến 1990, theo thống kê đến năm 1985 cả nước có 7.160 hợp tác xã tín dụng ở nông thôn và Quỹ tín dụng ở đô thị. Từ sau năm 1986 khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động ngành ngân hàng cũng đổi mới chuyển thành mô hình 2 cấp, tách bạch giữa quản lý nhà nước với tín dụng thương mại.