Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực Chương 2: Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng công nghiệp Thực Phẩm Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng công nghiệp Thực Phẩm Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, còn có sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp, nhiều cán bộ giảng viên trường Cao đẳng CNTP và một số đơn vị cơ quan có liên quan khác. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Trung tâm Bồi dưỡng và Đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giúp đỡ hoàn thành luận văn này, Ban giám hiệu, các Phòng, Ban, Khoa, Trung tâm của Trường Cao đẳng công nghiệp Thực Phẩm đã cung cấp số liệu điều tra phục vụ cho quá trình nghiên cứu và viết luận văn. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Bình Giang - Viện kinh tế người đã trực tiếp hướng dẫn và giành thời gian, công sức giúp tôi hoàn thành luận văn này. Mặc dù có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, người viết rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và đồng nghiệp để có thể tiếp tục hoàn thiện và phát triển thêm đề tài nghiên cứu này trong tương lai.
Khoa kinh tế & Quản lý 7 Học viên : Nguyễn Thị Ngọc Lan Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa hoc CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC 1. CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC 1. Nhân lực của tổ chức Xét về phạm vi xã hội, tổ chức được hiểu là các cơ quan, đơn vị hành chính thuộc hệ thống thiết chế nhà nước, các đơn vị sự nghiệp của nhà nước (đơn vị sự nghiệp công), các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị–xã hội, tổ chức nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, v. Các tổ chức trong xã hội có mục đích hoạt động, mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ khác nhau theo quy định của pháp luật.
Một trong những yếu tố quan trọng để các tổ chức này hoạt động và thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định là nhân lực, đây là yếu tố không thể thiếu và mang tính quyết định đối với công tác tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức. Nhân lực được hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động; sức mạnh của đội ngũ lao động; sức mạnh của cán bộ, công chức trong tổ chức. Sức mạnh đó phải được kết hợp của các loại người lao động và của các nhóm yếu tố: Sức khoẻ, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng. Nhân lực của một tổ chức: Là toàn bộ những khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức.
Một đội ngũ người lao động trong một tổ chức là một bộ phận những khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ của tổ chức. Nhân lực là tổng hoà của sức lực, trí lực và tâm lực. Sức lực là sức cơ bắp của con người, nó phụ thuộc vào độ tuổi, giới, mức sống, chế độ dinh dưỡng. Khoa kinh tế & Quản lý 8 Học viên : Nguyễn Thị Ngọc Lan Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa hoc Trí lực là yếu tố phản ánh khả năng nhận thức, tư duy, là những thuộc tính về trí tuệ giúp con người nắm được tri thức, hoạt động dễ dàng có hiệu quả trong các hoạt động khác nhau, đó là năng lực trí tuệ.
Nhân lực còn được gọi là lao động sống, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác của quá trình hoạt động của tổ chức. Quy mô, cơ cấu nhân lực và yêu cầu về chất lượng nhân lực của tổ chức phụ thuộc vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ được quy định và tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức. Để nghiên cứu bản chất và vai trò của nhân lực trong các tổ chức, có thể xem xét từ 2 loại hình tổ chức tiêu biểu là các tổ chức của nhà nước (các cơ quan, đơn vị trong hệ thống thiết chế nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công) và các tổ chức kinh tế (các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế). a) Nhân lực trong các cơ quan nhà nước gồm các loại nhân lực được huy động và sử dụng trong các cơ quan thuộc hệ thống thiết chế nhà nước Trung ương đến địa phương và trong các đơn vị sự nghiệp công.
Nhân lực của các cơ quan nhà nước chia thành công chức và viên chức nhà nước. Công chức nhà nước Là loại nhân lực thực hiện nhiệm vụ thường xuyên trong nền công vụ. Công chức là khái niệm được giới hạn trong phạm vi hành chính, là loại nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả thực hiện các chức năng của nhà nước; đồng thời là một nội dung chủ yếu cấu thành nền hành chính nhà nước. Đối với các quốc gia có nền hành chính phát triển, công chức nhà nước được hiểu là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong các công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ở nước ngoài, đã được xếp vào một ngạch nhất định và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
ở Việt Nam, theo quy định Pháp lệnh Cán bộ và công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 Khoa kinh tế & Quản lý 9 Học viên : Nguyễn Thị Ngọc Lan Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa hoc tháng 4 năm 2003 qui định: Công chức Là công dân Việt Nam được bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ chuyên môn, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính sự nghiệp trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và làm việc trong cơ quan nhà nước. Công chức nhà nước được tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo và quản lý thống nhất theo Pháp lệnh cán bộ và công chức và các quy định khác của nhà nước. Theo Pháp lệnh Cán bộ và công chức, công chức nhà nước được chia thành các loại công chức khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân loại được qui định tại Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 cụ thể: - Theo trình độ đào tạo , công chức nhà nước chia thành 3 loại: + Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học; + Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp; + Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp. - Theo vị trí công tác, công chức nhà nước chia thành 2 loại: + Công chức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chỉ huy điều hành trong một cơ quan, đơn vị hoặc một tổ chức của nhà nước; + Công chức chuyên môn nghiệp vụ trực tiếp thực hiện công vụ trong các cơ quan, đơn vị và các tổ chức của nhà nước.
Công chức nhà nước được bổ nhiệm vào các ngạch khác nhau tuỳ theo trình độ chuyên môn và tính chất công việc được phân công thực hiện. Ngạch công chức là khái niệm chỉ một chức danh công chức. Mỗi ngạch công chức thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ trong cơ cấu bộ máy nhà nước thuộc hệ thống quản lý nhà nước, có tên gọi (chức danh) riêng; có tiêu chuẩn nghiệp vụ trong đó xác định rõ chức trách, nhiệm vụ, nội dung công việc phải làm, ứng với Khoa kinh tế & Quản lý 10 Học viên : Nguyễn Thị Ngọc Lan Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa hoc mức độ phức tạp nhất định và yêu cầu cấp đào tạo ban đầu cần có; đồng thời có tiền lương riêng. Công chức nhà nước được xếp ngạch bao gồm cả công chức lãnh đạo và công chức chuyên môn nghiệp vụ.
Việc xếp ngạch, chuyển ngạch cho công chức được thực hiện căn cứ vào vị trí làm việc thực tế của công chức và tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch đó. Một ngạch công chức được hình thành bởi các tiêu chuẩn từ thấp đến cao do mức độ phức tạp và tính độc lập của từng chức danh; căn cứ vào đặc điểm tổ chức lao động của từng cơ quan, đơn vị. Chức danh và tiêu chuẩn chung của các ngạch công chức là cơ sở cho việc xác định vị trí làm việc cụ thể, xác định nhu cầu về các loại chuyên gia phù hợp, đồng thời làm căn cứ để tuyển dụng, xây dựng nội dung, chương trình và phương thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và đánh giá công chức trong cơ quan, các chức danh công chức nhà nước gồm: + Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên. + Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương.
+ Công chức ngạch chuyên viên và tương đương. + Công chức ngạch cán sự và tương đương. + Công chức ngạch nhân viên và tương đương. Việc chuyển từ chức danh công chức đang giữ lên chức danh cao hơn (nâng bậc công chức nhà nước) được thực hiện thông qua hình thức thi nâng bậc công chức và được áp dụng khi công chức đã có đủ thời gian giữ chức danh thấp hơn, đủ tiêu chuẩn chuyên môn của chức danh chuẩn bị bổ nhiệm và có đủ thời gian giữ chức danh hiện tại theo quy định.
Viên chức nhà nước Là loại nhân lực được huy động và sử dụng trong các tổ chức sự nghiệp của nhà nước (tổ chức dịch vụ công). Theo quy định hiện hành, viên chức nhà nước là công dân Việt Nam trong biên chế, được bổ nhiệm giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự Khoa kinh tế & Quản lý 11 Học viên : Nguyễn Thị Ngọc Lan Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ khoa hoc nghiệp.