phần mở đầu và kết luận thì nội dung chính của báo cáo gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng cho vay tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Đánh giá chất lƣợng cho vay tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng – Phòng giao dịch VPBank Đông Thọ Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng – Phòng giao dịch VPBank Đông Thọ 8 ‘ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Do tập quán luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau đã dẫn đến những quan niệm về Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) không đồng nhất giữa các khu vực trên thế giới. Vì vậy, trong quá trình hình thành và phát triển từ thế kỷ 15 đến nay, đã có rất nhiều khái niệm về NHTM nhƣ sau: Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo Pháp lệnh Ngân hàng Việt Nam năm 1990: “ NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ chủ yếu là thƣờng xuyên nhận tiền gửi của khách hàng (dân cƣ và các doanh nghiệp), có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng để cho vay, thanh toán, chiết khấu,v.
Theo Luật ngân hàng Nhà nƣớc và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997: “NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này dể cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác”. Nhƣ vậy, NHTM là tổ chức tín dụng vay tiền của ngƣời gửi và cho các công ty và cá nhân vay lại và có cùng mục tiêu lợi nhuận nhƣ các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể kinh tế.
Trong quá trình đó, NHTM thực hiện vai trò tham gia điều tiết vĩ mô đối với nền 9 ‘ kinh tế thông qua các chức năng của mình, biểu hiện các mối quan hệ giữa NHTM với các tổ chức kinh tế, cá nhân về mặt tín dụng, tiền mặt, các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, v.v…, đảm bảo hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế đƣợc bình thƣờng.2 Chức năng của ngân hàng thƣơng mại * Chức năng thủ qũy: Với chức năng này, ngân hàng thƣơng mại nhận tiền gửi, giữ tiền, bảo quản tiên, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền cho khách hàng của mình là các chủ thể trong nền kinh tế. Chức năng thủ quỹ góp phần tạo ra lợi ích cho các chủ thể khác nhau: Đối với khách hàng: chức năng thủ qũy giúp cho khách hàng ngoài việc đảm bảo an toàn tài sản của mình thì còn giúp sinh lời đƣợc đồng vốn tạm thời thừa. Đối với ngân hàng: có đƣợc nguồn vốn để ngân hàng thực hiện chức năng tín dụng và là cơ sở để ngân hàng thực hiện đƣợc chức năng trung gian thanh toán. Đối với nền kinh tế: chức năng thủ quĩ khuyến khích tích luỹ trong xã hội đồng thời tập trung nguồn vốn tạm thời thừa để phục vụ phát triển kinh tế.
*Chức năng trung gian thanh toán: Chức năng này, ngân hàng thƣơng mại thay mặt khách hàng trích tiền trên tài khoản trả cho ngƣời thụ hƣởng hoặc nhận tiền vào tài khoản.Chức năng này đem lại lợi ích: Đối với khách hàng hàng: thanh toán một cách nhanh chóng, an toàn, hiệu quả. Đối với ngân hàng: tạo điều kiện thu hút nguồn vốn tiền gửi thông qua cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lƣợng cao. Đối với nền kinh tế: chức năng này lƣu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, nâng cao hiệu quả quá trình tái sản xuất xã hội, đồng thời nó 10 ‘ cũng giúp làm giảm khối lƣợng tiền mặt dẫn đến tiết kiệm chi phí lƣu thông tiền mặt. *Chức năng trung gian tín dụng: Ngân hàng thƣơng mại là cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời thiếu vốn.
Chức năng này đem lại lợi ích cho các chủ thể nhƣ sau: Đối với khách hàng: là ngƣời gửi tiền, họ sẽ thu lợi từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dƣới hình thức tiền lãi, an toàn tiền gửi, tiện ích. Với ngƣời đi vay, giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế thoả mãn cầu vốn tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời tiết kiệm chi phí, thời gian, tiện lợi, an toàn và hợp pháp. Đối với ngân hàng: chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển ngân hàng thông qua lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, đồng thời nó là cơ sở để ngân hàng thƣơng mại tạo bút tệ góp phần tăng qui mô tín dụng cho nền kinh tế. Đối với nền kinh tế: chức năng này giúp điều hoà vốn tiền tệ từ nơi tạm thời dƣ thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm cho vay của ngân hàng thƣơng mại * Khái niệm Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này ngƣời cho vay chuyển giao quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định cho ngƣời đi vay.
Khi đến hạn trả nợ ngƣời đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay. Nhƣ vậy cho vay đƣợc hiểu nhƣ sau : 11 ‘ Khái niệm cho vay của ngân hàng thƣơng mại: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả ngốc và lãi. * Đặc điểm của một hoạt động cho vay - Tính pháp lý của nghiệp vụ cho vay: Cho vay của ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý. Các hành vi cho vay của ngân hàng có một logic kinh tế, hứng chịu rủi ro cho một ngƣời mà ngân hàng tin tƣởng ứng vốn cho vay, nhƣng nó không chỉ gồm một giao dịch pháp lý mà nhiều loại (cho vay, bảo lãnh, cầm cố…).
Luật ngân hàng các nƣớc định nghĩa tín dụng nhƣ sau: “Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ tác động nào, qua đó một ngƣời đƣa hoặc hứa đƣa vốn cho một ngƣời khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho ngƣời này nhƣng đảm bảo, bảo chứng hay bảo lãnh mà có thu tiền”. Định nghĩa này nêu ra 3 trƣờng hợp xét về tính chất pháp lý, các nghiệp vụ cho vay ngân hàng về cơ bản là: Cho vay ứng trƣớc (cho vay trực tiếp). Cho vay dựa trên việc chuyển nhƣợng trái quyền. Cho vay qua chữ ký (cho vay qua việc cam kết bằng chữ ký).
- Các khoản vay đều phải theo một quy trình cho vay, thu nợ nhất định. Thông thƣờng gồm 5 bƣớc: Bƣớc 1: Lập hồ sơ đề nghị vay. Bƣớc 2: Phân tích tín dụng. Bƣớc 3: Quyết định cấp tín dụng cho vay.
Bƣớc 4: Giải ngân. Bƣớc 5: Giám sát thu nợ và thanh lý hợp đồng cho vay. - Lãi suất trong hợp đồng cho vay theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng cho vay. - Các khoản cho vay có hoặc không có tài sản đảm bảo tuỳ vào việc đánh giá và xếp hạng khách hàng của ngân hàng cho vay.
12 ‘ - Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả gốc và lãi hoặc một số thoả thuận khác nếu đƣợc ngân hàng cho vay chấp nhận. Trƣờng hợp khách hàng không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thì tài sản đảm bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay.2 Phân loại cho vay của ngân hàng thƣơng mại * Phân loại theo thời gian (thời hạn cho vay) - Cho vay ngắn hạn: là những khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn lƣu động của doanh nghiệp, nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của Chính phủ và nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. - Cho vay trung hạn: là những khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm.
Khoản tín dụng này thƣờng đƣợc sử dụng để đầu tƣ đổi mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thiết bị công nghệ hoặc mở rộng sản xuất. - Cho vay dài hạn: là những khoản vay trên 5 năm. Các khoản này thƣờng dùng để đầu tƣ vào vốn cố định của doanh nhgiệp, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, bất động sản và cho vay tiêu dùng cá nhân vào các nhu cầu nhà ở, phƣơng tiện vận tải… * Phân loại theo mục đích sử dụng tiền vay - Cho vay sản xuất: Là loại cho vay mà khách hàng sử dụng vốn chuyên để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Cho vay sản xuất gồm cho vay nông nghiệp, công nghiệp, lâm – ngƣ – diêm nghiệp.
- Cho vay lƣu thông: Là loại cho vay mà khách hàng sử dụng vốn vay chuyên để kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Cho vay lƣu thông gồm có cho vay thƣơng mại (mua – bán kinh doanh hàng hóa nội địa, kinh doanh xuất – nhập khẩu); cho vay kinh doanh dịch vụ. - Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay mà khách hàng sử dụng vốn chuyên để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân. 13 ‘ * Phân loại theo tài sản đảm bảo - Cho vay có tài sản đảm bảo: đây là loại hình cho vay mà khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba làm đảm bảo.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: loại tín dụng này thƣờng đƣợc cấp cho các khách hàng có uy tín, thƣờng là khách hàng làm ăn thƣờng xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dƣa, hoặc món vay tƣơng đối nhỏ so với vốn của ngƣời vay. * Phân loại theo tính chất hoàn trả - Cho vay hoàn trả trực tiếp: Là loại cho vay của ngân hàng trong đó ngƣời đi vay chính là ngƣời phải trả nợ trực tiếp cho ngân hàng.