CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ỨNG DỤNG MARKETING TRONG NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG ỨNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 1.1 TỔNG QUAN VỀ MARKETING NGÂN HÀNG 1.1 Hiểu về Marketing ngân hàng Marketing được xem mà một hoạt động không thể thiếu để đem lại thành công trong lĩnh vực kinh doanh cũng như mọi hoạt động khác của xã hội hiện đại. Trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động Marketing được mô tả như một số hoạt động nhằm hiểu biết thấu đáo nhu cầu của khách hàng để từ đó cải tiến thủ tục, thời gian giao dịch, hoàn thiện địa điểm giao dịch, nắm bắt yêu cầu của khách hàng về chất lượng dịch vụ cung ứng và phong cách phục vụ của nhân viên ngân hàng…. Tóm lại là các hoạt động hướng tới khách hàng, nhằm phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn. Hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về Marketing ngân hàng.
Có quan điển cho rằng Marketing ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của ngân hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận. Theo một quan điểm khác, Marketing ngân hàng là một chức năng của hoạt động quản trị nhằm hướng dòng chảy sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục vụ những nhóm khách hàng mục tiêu đã lựa chọn. Nhưng quan niệm toàn diện và bao trùm hơn cả là: “Marketing ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý của một ngân hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu của các nhóm khách hàng đã chọn và thoả mãn nhu cầu của họ bằng hệ thống các chính sách biện pháp nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận như dự kiến” [3, tr 9] Do việc nghiên cứu khai thác Marketing trong lĩnh vực ngân hàng của mỗi tác giả ở những góc độ và thời gian khác nhau nên đã xuất hiện những quan điểm khác nhau, song đều có sự thống nhất về những vấn đề cơ bản của Marketing ngân hàng. Đó là: - Việc sử dụng Marketing vào lĩnh vực ngân hàng phải dựa trên những nguyên tắc, nội dung, phương châm của Marketing hiện đại.
4 - Quá trình Marketing ngân hàng thể hiện sự thống nhất cao độ giữa nhận thức và hành động của nhà ngân hàng về thị trường, nhu cầu khách hàng và năng lực của ngân hàng. Do vậy ngân hàng cần phải định hướng hoạt động của các bộ phận và toàn thể đội ngũ nhân viên ngân hàng vào việc tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng – yếu tố quyết định sự sống còn của ngân hàng trên thị trường. - Nhiệm vụ then chốt của Marketing ngân hàng là xác định được nhu cầu, mong muốn của khách hàng và cách thức đáp ứng nó một cách hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh.2 Đặc điểm Marketing ngân hàng 1.1 Marketing ngân hàng là loại hình Marketing dịch vụ tài chính Ngân hàng là ngành kinh doanh dịch vụ nên hoạt động Marketing NH thuộc loại hình Marketing dịch vụ. Tuy nhiên các ngành dịch vụ lại rất đa dạng và phong phú, thuộc nhiều loại hình khác nhau như dịch vụ phi thương mại khu vực nhà nước và tư nhân gồm: bệnh viện, trường học, cơ quan hậu cần quân đội…và dịch vụ thuộc lĩnh vực thương mại như công ty hàng không, bảo hiểm, khách sạn, ngân hàng…Do vậy việc nghiên cứu kỹ đặc điểm của dịch vụ sẽ là căn cứ để tổ chức tốt quá trình Marketing ngân hàng.
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm khác biệt, đó là tính vô hình, tính không tách rời, không ổn định về chất lượng và không lưu trữ được. - Tính vô hình: Do dịch vụ NH không tồn tại dưới dạng vật chất vì vậy khách hàng khi “mua” dịch vụ không thể sờ nắm được hoặc cảm nhận cụ thể được vật mình “mua”, đặc biệt là khó khăn trong đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua. - Tính không tách rời: Được thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng dịch vụ luôn diễn ra đồng thời với quá trình tiêu dùng của khách hàng.
Khách hàng cũng có mặt khi dịch vụ được thực hiện nên đòi hỏi cả ngân hàng và khách hàng đều 5 phải cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết, đầy đủ và chính xác. Đây là căn cứ để quyết định các giao dịch và là cơ sở lòng tin để duy trì mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng. - Tính không ổn định về chất lượng: Dịch vụ NH phụ thuộc phần lớn vào nhân tố con người, nhân tố con người là nhân tố không ổn định, vì vậy dẫn đến chất lượng dịch vụ không ổn định về chất lượng. - Tính không lưu giữ được: Dịch vụ NH không thể sản xuất sẵn rồi lưu kho như các sản phẩm thông thường khác, vì vậy hoạt động Marketing cần theo hướng điều chỉnh nhịp độ cung ứng theo kịp nhịp độ mua như rút ngắn quy trình xử lý nghiệp vụ, trang thiết bị, máy móc hiện đại có khả năng rút ngắn thời gian giao dịch, tăng cường nhân viên cung ứng tại giờ cao điểm, kéo dài thời gian cung ứng 24/24 .2 Marketing ngân hàng phụ thuộc nhiều vào yếu tố con người Thực tế cho thấy rằng, so với Marketing các lĩnh vực khác, Marketing ngân hàng phức tạp hơn nhiều bởi tính đa dạng, nhạy cảm của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia đồng thời của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng.
Nhân viên ngân hàng là yếu tố quan trọng trong quá trình cung ứng chuyển giao sảm phẩm dịch vụ ngân hàng. Họ giữ vai trò quyết định cả về số lượng, kết cấu chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng và cả mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng. Chính họ tạo nên tính khác biệt hoá cho sản phẩm dịch vụ cung ứng, tạo khả năng thu hút khách hàng và vị thế cạnh tranh của NH.3 Phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ Chất lượng Marketing ngân hàng phụ thuộc vào rất nhiều mối quan hệ tác động qua lại. Quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng, giữa chủ ngân hàng với nhân viên ngân hàng, quan hệ giữa các nhân viên ngân hàng với nhau, quan hệ giữa ngân hàng với các đơn vị có liên quan trong quá trình hoạt động.
6 - Quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng, cụ thể hơn là quan hệ giữa khách hàng với nhân viên giao dịch trực tiếp. Đây là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân nên khả năng trao đổi là rất cao. Sự trao đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ ngân hàng nên cần phải có sự nhấn mạnh vai trò của đội ngũ nhân viên phân phối dịch vụ và quan hệ của họ với khách hàng. - Quan hệ giữa chủ ngân hàng và nhân viên ngân hàng: Theo quan điểm nhân viên ngân hàng là khách hàng của chủ ngân hàng, những công việc mà nhân viên phải thực hiện chính là sản phẩm mà chủ ngân hàng cần bán cho họ.
Điều này đòi hỏi chủ ngân hàng phải nắm được nhu cầu mong muốn của nhân viên và phải tạo được đầy đủ điều kiện thuận lợi để họ thực hiện tốt công việc của họ. Đồng thời, nhân viên ngân hàng do đặc điểm phải tiếp cận trực tiếp và thường xuyên với khách hàng nên cũng phải có những thông tin phản hồi kịp thời cho chủ ngân hàng để giúp chủ ngân hàng ra những quyết định chính xác và hiệu quả. - Quan hệ giữa nhân viên ngân hàng với nhau: là quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau để cùng hoàn thành công việc. - Quan hệ giữa ngân hàng với các đơn vị liên quan: hoạt động của ngân hàng phải tuân thủ những quy chế quản lý loại hàng hoá đặc biệt là tiền tệ.
Do đó, ngân hàng phải chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước trong hành lang pháp luật nói chung và của Luật ngân hàng nói riêng.4 Chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường pháp luật Ta biết rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước thông qua hàng loạt các quy chế, quy định của pháp luật. Chính vì vậy, hoạt động Marketing ngân hàng dương như khó khăn hơn so với các lĩnh vực kinh doanh khác xét trên cả phạm vi lẫn mức độ giao dịch với khách hàng. Thông thường, đối với các lĩnh vực kinh doanh khác, điều kiện duy nhất yêu cầu đối với khách hàng chỉ là vấn đề tài chính. Trong khi đó, để có thể sử dụng được dịch vụ ngân hàng, khách hàng phải thoả mãn hàng loạt các điều 7 kiện phức tạp khác nhau như tình hình tài chính phải lành mạnh, phương án kinh doanh khả thi nếu muốn vay vốn, thu nhập của khách hàng phải ổn định ở mức độ nhất định nếu muốn dùng thẻ tín dụng, nguồn ngoại tệ và mục đích sử dụng ngoại tệ phải hợp pháp nếu muốn chuyển tiền ra nước ngoài .2 DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.1 Hiểu về dịch vụ ngân hàng bán lẻ Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụ ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các NHTM Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đẩy mạnh hiện đại hóa, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào khai thác thị trường bán lẻ.
Thị trường bán lẻ là cái nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ NH. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về hoạt động bán lẻ. Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ bình thường, bán lẻ là bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng từng cái, từng ít một. Nó khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho nhà phân phối của hàng hóa đó.
Tuy nhiên, do những đặc thù riêng của hoạt động ngân hàng mà thuật ngữ “bán lẻ” trong ngân hàng có thể hiểu như sau: “Nghiệp vụ NHBL được hiểu là nghiệp vụ của NHTM dành cho các khách hàng cá nhân nhằm thỏa mãn các nhu cầu gửi tiền tiết kiệm, vay tiêu dùng, chuyển tiền, thanh toán và một số dịch vụ tài chính khác của các cá nhân trong xã hội.” [2, tr 2] Từ quan niệm trên có thể thấy đặc điểm của dịch vụ NHBL: Thứ nhất, đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL đại đa số là dân cư, do vậy mà mỗi nhóm khách hàng có những đặc điểm riêng biệt như: mức thu nhập, cách chi tiêu tài chính, trình độ, tuổi tác, nghề nghiệp…điều này tạo ra sự khác nhau trong nhu cầu của mỗi khách hàng.