Phần mở đầu ). Trong đó nổi bật chính là khả năng dự trữ tải trọng vận chuyển và tiếp nhận tốt ứng suất chịu kéo uốn sinh ra dưới tác động của xe chạy.4 Kết cấu mặt đường bán cứng và trạng thái ứng suất ở nhiệt độ T = 270C Tải trọng : P = 0,65Mpa Bán kính : a = 0,1565m Nhiệt độ : T = 270C 18 Hình 2.4 : Kết cấu mặt đường bán cứng và trạng thái ứng suất ở nhiệt độ T = 270C, trục xe tiêu chuẩn 100 kN [19] Hình 2.4 cho thấy : Ứng suất kéo uốn lớn nhất đã sinh ra ở mặt đáy lớp đá gia cố xi măng. Và lớp này có khả năng đáp ứng tốt điều kiện “làm việc” chịu kéo uốn.3 Nguyên tắc và quan điểm chung về thiết kế cấu tạo kết cấu áo đường - Phải tuân theo nguyên tắc thiết kế tổng thể nền mặt đường. - Phải chọn và bố trí đúng các tầng, lớp vật liệu trong kết cấu áo đường, tận dụng vật liệu tại chỗ để làm lớp móng dưới và lớp đáy áo đường với điều kiện có nghiên cứu thử nghiệm trước về vật liệu tại chỗ.
- Chú trọng các điều kiện thi công, duy tu bảo dưỡng, phân kỳ đầu tư. - Quan tâm đến chức năng chịu lực và chịu tác dụng của các yếu tố thiên nhiên. - Thiết kế bề dày các lớp trong kết cấu áo đường cần phải chú ý đến điều kiện thi công và bề dày lớp tối thiểu đối với mỗi loại vật liệu. Bề dày tối thiểu được xác định bằng 1,5 lần cỡ hạt cốt liệu lớn nhất có mặt trong lớp vật liệu.
Bề dày đầm nén có hiệu quả đối với bê tông nhựa thường không nên quá 8-10cm, các loại vật liệu khác có gia cố không quá 15cm, không gia cố 18cm. - Tăng cường độ và độ ổn định của nền đất dưới áo đường thường có hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc tăng cường bề dày áo đường. 19 - Nền đường thường yêu cầu mô đun đàn hồi tối thiểu Eo = 300daN/cm2 hoặc sức chịu tải CBR từ 6 trở lên. Lớp đáy áo đường E ≥ 500daN/cm2, CBR từ 10% đến 15%.
Lớp móng dưới CBR ≥ 30%. Móng trên CBR ≥ 80%. - Bố trí cấu tạo áo đường theo kết cấu ngược. Loại này được bố trí không theo quy tắc chọn vật liệu có môđun giảm dần theo chiều sâu, trái lại môđun đàn hồi của tầng móng có thể lớn hơn tầng mặt hoặc môđun lớp dưới có thể lớn hơn lớp móng trên.
- Phải thiết kế tưới lớp dính bám giữa các lớp bê tông nhựa với các loại mặt đường nhựa không thi công liền nhau về thời gian và trong trường hợp rải bê tông nhựa trên các lớp mặt đường nhựa cũ. - Phải thiết kế tưới lớp nhựa thấm bám khi bố trí các lớp mặt đường nhựa trên móng đất, đá gia cố và móng cấp phối đá dăm, cấp phối thiên nhiên, đá dăm macađam. - Nên thiết kế một lớp láng nhựa trên móng cấp phối đá dăm nếu để xe cộ đi lại sau một thời gian mới thi công tiếp các lớp ở trên.4 Lựa chọn, nguyên lý sử dụng vật liệu xây dựng mặt đường ■ Lựa chọn vật liệu : Chọn vật liệu thích hợp với trạng thái chịu lực và trạng thái thủy nhiệt của mỗi tầng lớp mặt đường. Giải quyết vấn đề này cần phải chú ý đến các chỉ tiêu kỹ thuật – kinh tế của mỗi loại hỗn hợp vật liệu định sử dụng.
Vì mỗi tầng lớp kết cấu mặt đường thường được cấu tạo bằng một hỗn hợp vật liệu 3 pha nên cần nghiên cứu xác định được các yêu cầu cụ thể đối với mỗi thành phần vật liệu tham gia trong đó sao cho : Chúng có thể phối hợp tốt, tạo nên và hình thành một cấu trúc có cường độ cao đáp ứng yêu cầu. Cấu trúc của vật liệu cấu tạo nên các tầng lớp mặt đường thường có các hình thức chủ yếu sau: 20 - Cấu trúc keo tụ (còn gọi là cấu trúc đông tụ hoặc ngưng tụ): khi các hạt cứng được bao bọc bằng các màng mỏng chất lỏng (như các hạt đất có các màng nước bao bọc, các hạt khoáng chất có nhựa bao bọc). Cường độ của một lớp có cấu trúc keo tụ phụ thuộc chủ yếu vào thành phần, loại màng chất lỏng, số lượng và chất lượng của nó, đồng thời cũng phụ thuộc vào cường độ của các hạt cứng cũng như sự tiếp xúc bề mặt giữa các hạt. - Cấu trúc kết tinh: khi các hạt cứng được bao bọc bằng các màng chất liên kết biến cứng (như bê tông xi măng).
Cường độ của loại kết cấu này cũng phụ thuộc số lượng, chất lượng chất liên kết, cường độ vật liệu khoáng chất và diện tích tiếp xúc giữa các hạt. - Cấu trúc tiếp xúc: các hạt cứng tiếp xúc trực tiếp không có các màng ngăn cách (như lớp cát, cuội sỏi, đá dăm). Cường độ của loại cấu trúc này phụ thuộc vào tác dụng giữa các lực phân tử ở bề mặt tiếp xúc của các hạt và cũng phụ thuộc diện tích tiếp xúc ma sát giữa các hạt. ■ Nguyên lý sử dụng vật liệu : Hỗn hợp vật liệu để tạo nên các lớp trong kết cấu mặt đường thường gồm 2 loại: cốt liệu và các chất liên kết.
Cốt liệu thường là các hạt mịn, đất, cát, sỏi sạn, đá dăm, cấp phối, xỉ, phế liệu công nghiệp. Bất cứ tầng, lớp nào trong kết cấu mặt đường mềm hoặc cứng cũng đều phải dùng một trong các loại đó có tác dụng làm bộ khung của lớp kết cấu. Chất liên kết thường được trộn hoặc tưới vào cốt liệu với một tỷ lệ nhất định để dính kết các hạt cốt liệu nhằm tăng cường độ và tính chống thấm nước của hỗn hợp. Các chất liên kết gồm có: các chất liên kết rắn trong nước và puzôlan (như xi măng các loại, vôi tro bay, vôi puzôlan), các chất liên kết hữu cơ hoặc chất liên kết hyđrôcácbon (như nhựa bitum, gruđon, nhũ tương của bitum hoặc gruđon) và vôi.
Ngoài ra với mặt đường quá độ còn dùng đất dính làm chất liên kết, tuy nhiên đất dính kém ổn định với nước, vì vậy chỉ thích hợp để làm lớp móng của các kết cấu mặt đường có lớp mặt hoàn chỉnh. 21 Tùy theo yêu cầu cũng như điều kiện làm việc của mỗi tầng, lớp có thể có những tầng, lớp không cần vật liệu liên kết. Vật liệu liên kết gồm có 3 loại: vật liệu liên kết thiên nhiên (như đất sét dính), vật liệu liên kết vô cơ (như xi măng, vôi ), vật liệu liên kết hữu cơ (như nhựa, các chất hóa học). Ngoài cốt liệu và vật liệu liên kết, nhiều khi người ta còn dùng thêm các chất phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ.
Mục đích chính của việc dùng các chất phụ gia thường là để cải tạo điều kiện tiếp xúc và bao bọc nhằm giúp cho tác dụng của vật liệu liên kết đối với cốt liệu được tốt hơn, nhờ đó tăng được cường độ của vật liệu hoặc tạo điều kiện cho việc thi công dễ dàng hay nhằm tăng cường một tính chất nào đó của hỗn hợp vật liệu. Khi đã có các loại vật liệu thì vấn đề đặt ra là phải sử dụng các loại vật liệu kể trên như thế nào? Cụ thể : Phải quyết định yêu cầu đối với mỗi thành phần vật liệu, tỷ lệ phối hợp giữa chúng ra sao để tạo nên một hỗn hợp vật liệu mà sau khi hoàn thành thi công, có thể đạt được một cấu trúc có cường độ và ổn định độ bền nhất định, đáp ứng được yêu cầu chức năng của mỗi tầng xây dựng mặt đường. Mỗi phương pháp xây dựng mặt đường phải dựa trên một nguyên lý sử dụng lớp mặt đường. Nguyên lý sử dụng vật liệu khác nhau sẽ quyết định yêu cầu về thành phần vật liệu, số lượng và chất lượng, đồng thời cũng quyết định các biện pháp kỹ thuật thi công cần thiết.
Ngược lại, nếu có sẵn các loại vật liệu nào đó thì nên theo một nguyên lý cấu tạo tương ứng. Như vậy mới đảm bảo tạo nên được một tầng, lớp có lợi nhất về cường độ và ổn định độ bền. Việc sử dụng vật liệu để xây dựng mặt đường đến hiện nay đều dựa vào một trong các nguyên lý sử dụng vật liệu sau: Nguyên lý lát, xếp; nguyên lý đá chèn đá; nguyên lý gia cố đất và nguyên lý cấp phối. ■ Các loại kết cáo áo đường sử dụng ở Gia Lai Hình 2.5 là dạng điển hình về kết cấu áo đường quốc lộ (QL) ở tỉnh.Đoạn mở rộng, nâng cấp QL 14 qua TP.Pleiku có trình tự các lớp từ trên xuống dưới như sau : 22 - Bê tông nhựa chặt hạt mịn C15 dày 5cm, - Bê tông nhựa rỗng hạt trung R25 dày 7cm, - Cấp phối đá dăm loại I (Dmax=25mm) dày 18cm, - Cấp phối đá dăm loại II (Dmax=37,5mm) dày 25cm, - Đất đồi chọn lọc (k ≥ 0,98) dày 50cm, - Nền đường (k ≥ 0,95).5 : Mặt cắt ngang điển hình công trình : Nâng cấp mở rộng Quốc lộ 14 – đoạn qua thành phố Pleiku – tỉnh Gia Lai.7 giới thiệu trình tự các lớp kết cấu áo đường của mặt đường bê tông xi măng (BTXM).
Đây là dạng mặt đường cứng liên huyện (rộng 5,5m, dày 24cm) và liên xã (rộng 3m, dày 20cm).6 : Mặt cắt ngang điển hình công trình : Đường từ thị trấn Phú Túc đi ngã ba xã IaMlah – huyện Krông Pa – tỉnh Gia Lai.7 : Mặt cắt ngang điển hình công trình : Đường giao thông làng Leng 1 xã Tơ Tung – huyện KBang – tỉnh Gia Lai.8 : Mặt cắt ngang điển hình công trình : Đường giao thông làng Nái – xã Ia Tiêm – huyện Chư Sê – tỉnh Gia Lai. Kết cấu mặt đường mềm thường có trình tự các lớp áo đường dưới đây: - Mặt đường : Láng nhựa nóng hoặc bê tông nhựa nóng - Móng đường : + Móng trên : Đá dăm tiêu chuẩn hoặc cấp phối đá dăm + Móng dưới : Đất cấp phối ( loại tốt ) Kết cấu dạng này được xây dựng ở các vùng có nền đất ổn định như nền đất bazan, nền đất phún đồi.Vùng phía Đông, Đông Nam tỉnh hiện đang áp dụng kết cấu mặt đường cứng thay cho kết cấu mặt đường mềm.Lý do vì nền đường bị suy giảm lớn cường độ trong mùa mưa khiến cho mặt đường nhựa bị nứt vỡ. Đường nông thôn (hình 2.8) thường là đường láng nhựa, dưới là lớp móng đá 4x6 chèn đá dăm dày từ 12- 14 cm.Đối với vùng có nền kém ổn định thì dùng kết cấu là đường bê tông xi măng đá 1x2 hay đá 2x4 mác 200(250daN/cm2) dày 16-20 cm.