lời mở đầu và kết luận, bố cục của luận văn bao gồm ba phần chính nhƣ sau: C ƣơn 1: Cơ sở l luận chung về nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại. C ƣơn 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu. C ƣơn 3: Giải pháp huy động vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu đến năm 2015. Với kết cấu nhƣ trên, đề tài nghiên cứu đã cố gắng đạt đƣợc các mục đích đề ra.
Tuy nhiên do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn, thiếu ót là điều không thể tránh khỏi. Tác giả rất mong nhận đƣợc sự đóng góp kiến của qu thầy cô và các bạn. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Khái niệm về Ngân hàng Thƣơng mại ( NHTM). Ngân hàng đã xuất hiện từ xa xưa và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Lúc đầu hoạt động ngân hàng còn sơ khai, đơn giản chỉ là nhận giữ hộ tiền, vàng của các chủ tiệm vàng, nhà buôn.vì mục đích an toàn. Cùng với sự phát triển kinh tế và với sự ra đời của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào cuối thế kỷ XIX, hoạt động ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Kết quả là xuất hiện nhiều loại hình ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ cũng ngày càng đa dạng và phong phú với công nghệ hiện đại. Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được tổ chức theo mô hình hai cấp, trong đó: Cấp 1: Ngân hàng Trung ương là cơ quan quản lý vĩ mô đối với mọi hoạt động tiền tệ ngân hàng.
Cấp 2: Ngân hàng trung gian với chức năng kinh doanh tiền tệ, không thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Trong hệ thống ngân hàng trung gian bao gồm nhiều loại hình ngân hàng như: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng vì mục đích xã hội…. trong đó ngân hàng thương mại giữ vị trí chủ yếu. Trên thế giới, NHTM đã xuất hiện từ lâu đời trên cơ sở hoạt động thường xuyên là nhận bảo quản tiền, vật có giá trị của các chủ thể trong xã hội và sử dụng chúng để cho vay, cung ứng các dịch vụ khác có liên quan.
Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hai cấp cũng mới hình thành và phát triển khoảng gần 20 năm, trên cơ sở nền tảng pháp lý ban đầu gồm hai Pháp lệnh: Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (có hiệu lực từ 01/10/1990) và từ năm 1997 đến nay là các bộ luật về Ngân hàng. Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 2 07/1997/QHX ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng số 20/2004/QHXI ngày 15/06/2004 đã xác định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Thuật ngữ “ngân hàng thương mại” đã được chỉ rõ tại luật Các Tổ chức Tín dụng ban hành năm 2010: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” 1.2 Vai trò của Ngân hàng thƣơng mại. Đảm bảo tính an toàn cho tài sản của khách hàng đồng thời đảm bảo cho tính sinh lời của đồng tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư an toàn, hiệu quả, làm cho đồng tiền của họ sinh lời , tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Đồng thời, ngân hàng cũng biến tiền nhàn rỗi trong dân cư từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn đầu tư lớn cho nền kinh tế. Tạo điều kiện cho quá trình thanh toán trong nền kinh tế diễn ra một cách nhanh chóng, an toàn và hiệu quả. Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thì chất lượng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng cũng không ngừng tăng lên cả về tốc độ lẫn tính chính xác, an toàn; làm cho vốn tiền tệ được vận động không ngừng, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.
Thỏa mãn nhu cầu về vốn tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, để mở rộng quy mô sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định để đổi mới thiết bị và công nghệ và bằng nghiệp vụ tín dụng, NHTM đã cung cấp một lượng vốn lớn cho nền kinh tế, góp phần đẩy mạnh đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao đời sống dân cư. Thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế vì đáp ứng được nhu cầu vốn để duy trì liên tục quá trình sản xuất hàng hóa. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhờ tận dụng được nguồn vốn tạm thời thừa vào quá trình cho vay và đầu tư sinh lời.
3 NHTM làm cầu nối giữa NHTW với nền kinh tế để thực hiện các chính sách tiền tệ. Để thực thi chính sách tiền tệ, NHTW sử dụng các công cụ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các nghiệp vụ trên thị trường mở. Chính các NHTM là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của những công cụ này đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế để Chính phủ và NHTW có những chính sách điều tiết thích hợp. NHTM góp phần thúc đẩy kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.
Với xu hướng phát triển kinh tế theo hướng hội nhập vào cộng đồng kinh tế quốc tế, việc mở rộng và giao lưu kinh tế là một vấn đề tất yếu. Thông qua các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, quan hệ thanh toán với các tổ chức tài chính quốc tế, NHTM giúp cho việc thanh toán trao đổi mua bán được diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và hiệu quả. Như vậy, NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất, thông qua đó góp phần thực thiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.3 Chức năng của Ngân hàng thƣơng mại.1 Chức năng làm trung gian thanh toán. Các ngân hàng duy trì những tài khoản tiền gửi dưới dạng tài khoản tiền gửi thanh toán hay những tài khoản tiền gửi phục vụ giao dịch khác cũng là một chức năng quan trọng giúp cho các ngân hàng phân biệt được với các định chế tài chính phi ngân hàng trong các hệ thống tài chính hiện đại.
Khi cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, các ngân hàng cũng sẽ thu được lợi ích dưới hình thức những khoản thù lao gọi là phí thanh toán. Hoạt động thanh toán của ngân hàng tạo ra một sự tiện lợi cho mọi người. Qua dịch vụ này, khách hàng có thể thực hiện việc chi trả cho chủ nợ của mình một cách nhanh chóng, an toàn, đẩy nhanh tốc độ quay vòng của vốn tiền tệ, phục vụ lưu thông hàng hóa được thuận lợi, nhất là các thương vụ lớn, cần phải chi trả một khoản tiền lớn. Hiện nay, chức năng thanh toán ngày càng trở thành một nghiệp vụ đóng vai trò quan trọng của ngành Ngân hàng, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế.2 Chức năng trung gian tín dụng.
Đây là chức năng quan trọng của các NHTM và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế. Các NHTM ngày nay luôn coi việc cấp tín dụng cho khách hàng là hoạt động truyền thống, là hoạt động sinh lời chủ yếu và là thế mạnh của họ. Tín dụng do các ngân hàng cung cấp bao gồm nhiều chủng loại dưới nhiều hình thức trung dài hạn bằng tiền, cho vay chiết khấu, cho vay theo dự án, tín dụng thuê mua. Các ngân hàng huy động những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế qua việc nhận tiền gửi hay đi vay và những đồng vốn đó được ngân hàng đem cho vay phục vụ các nhu cầu chi tiêu hay nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh.
Vốn tín dụng của các ngân hàng đã tạo thuận lợi cho việc thực hiện trôi chảy ở tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và làm tăng nhịp độ của quá trình tái sản xuất. Chính từ hoạt động cấp tín dụng mà các ngân hàng đã góp phần đẩy mạnh đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế cũng như góp phần cải thiện đời sống dân cư. Rõ ràng dù theo kiểu nào thì vốn do các ngân hàng tài trợ cho nền kinh tế luôn mang lại lợi ích hiển nhiên.3 Các chức năng khác. Ngoài các chức năng cơ bản nêu trên các ngân hàng còn đảm nhận nhiều chức năng khác nữa.
Những chức năng đó là: chức năng tạo tiền, cung cấp dịch vụ ủy thác, bảo quản an toàn vật có giá trị và các chức năng khác như môi giới, tư vấn. Chức năng tạo tiền của các ngân hàng không độc lập mà nó có liên quan mật thiết với chức năng huy động tiền gửi, vay mượn và cho vay của các ngân hàng khi được xem xét trong mô hình tạo tiền và vai trò của nó đối với nền kinh tế. Những dịch vụ ủy thác, tư vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính khác thường không được xem là chức năng cơ bản của các ngân hàng, cũng được các ngân hàng hiện đại cung cấp cho khách hàng của họ. Các dịch vụ thuộc nhóm này do các ngân hàng cung cấp thường rất đa dạng như: quản lý quỹ hưu trí của các doanh nghiệp, quản lý vốn ủy thác theo các chương trình cho vay, quản lý vốn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh và tư vấn đầu tư chứng 5 khoán, đại lý phát hành hay đại lý thanh toán.
Thông thường, ngân hàng phải thành lập công ty con để triển khai cung cấp các dịch vụ này. Cung cấp dịch vụ bảo quản an toàn những thứ có giá trị (dịch vụ két sắt).