CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay là hình thức chuyển nhượng tạm thời một số tiền từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Cho vay biểu hiện ra bên ngoài như là sự vận động đơn phương của giá trị thuộc hai quá trình ngược chiều nhau trong một thời gian cụ thể.
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đã được định nghĩa trong luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 16/06/2010 như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Đây là một trong những hoạt động chính gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của NHTM. NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ dân chúng và các tổ chức kinh tế, tạo khoản cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động. Đối với các NHTM của Việt Nam, hoạt động cho vay luôn chiếm đến hơn 70% chi phí và thu nhập, tuy nhiên, chất lượng của các khoản tín dụng vẫn còn khá thấp.
Do vậy, hoạt động của các NHTM Việt Nam chứa đựng khá nhiều rủi ro. Chính vì thế cần quản lý chặt chẽ hoạt động cho vay để có thể đảm bảo tính an toàn đó. Các nguyên tắc cho vay của NHTM được cụ thể hoá trong quy định của Ngân hàng Nhà nước và các NHTM, cụ thể như sau: Thứ nhất, khách hàng vay vốn cần phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với ngân hàng. Phạm vi hoạt động của các NHTM đã được Pháp luật quy định.
Tuy nhiên, bên cạnh đó mỗi ngân hàng đều có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Mục đích sử dụng 4 vốn vay của khách hàng được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo rằng ngân hàng sẽ không tài trợ cho các hoạt động trái luật pháp và việc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh hoạt động của ngân hàng. Thứ hai, khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân rồi đầu tư trở lại nền kinh tế.
Nguồn gốc của các khoản tín dụng của ngân hàng là các khoản đi vay của ngân hàng. Chính vì thế mà ngân hàng cần phải có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn như đã cam kết với khách hàng. Do vậy, để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển thì buộc người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này. Phân loại cho vay Người ta có thể dựa vào rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sản phẩm cho vay.
Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đích giúp cho các ngân hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả của công tác hạn chế rủi ro trong cho vay. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây: - Mục đích sử dụng vốn vay: Theo tiêu chí này, người ta phân chia cho vay thành 02 loại sau: Cho vay sản xuất kinh doanh: Là loại cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó về tiền của khách hàng. Cho vay tiêu dùng: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp trang trải cho nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ.
Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi Cho vay tiêu dùng. 5 - Thời hạn cho vay: Theo tiêu thức này, người ta chia cho vay thành 03 loại: Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của khách hàng và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các nhân, hộ gia đình. Cho vay trung hạn: Là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập. Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn vay trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên tới 20 - 30 năm. Cho vay dài hạn được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư mới, mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở, mua sắm, đầu tư phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, dây chuyền, nhà máy sản xuất. - Bảo đảm tiền vay của khoản vay Theo tiêu thức phân loại này, cho vay được chia thành hai loại: Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Đối với những khách hàng tốt, có uy tín cao, có khả năng tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần một nguồn thu thứ hai bổ sung. Cho vay có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải 6 có bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu tính chắc chắn.
- Phương pháp cho vay: Dựa vào tiêu thức này, cho vay của NHTM được chia thành các loại sau đây: Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần cách biệt nhau đối với khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay trong trường hợp cần thiết vốn để ngân hàng tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép khách hàng trả góp làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá, áp dụng đối với doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay thấu chi: Là việc cho vay mà Ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng đến một giới hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi). Rủi ro trong cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro trong cho vay Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, rủi ro trong cho vay được định nghĩa là “tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của NHTM do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. 7 Trên thực tế, sẽ rất dễ bị nhầm lẫn và hiểu đồng nhất giữa giá trị tổn thất với khái niệm rủi ro.
Sự nhầm lẫn này sẽ tác động bất lợi đến hoạt động hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay, trong đó ảnh hưởng lớn nhất đến tính chủ động trong các biện pháp quản lý rủi ro. Đơn cử, xuất phát từ quan niệm chỉ khi khoản vay phát sinh quá hạn mới có rủi ro và việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro dựa trên cơ sở những khoản nợ quá hạn, chứ không đánh giá trích lập dự phòng rủi ro trên cơ sở mức độ xác xuất xảy ra nợ quá hạn, sẽ dẫn đến tình trạng: Thứ nhất, những khoản cho vay mà theo xác xuất thực sự có rủi ro sẽ không được trích lập; Thứ hai, làm mất tính chủ động trong việc hạn chế rủi ro trong cho vay, mức độ đáp ứng của nguồn vốn bù đắp rủi ro sẽ rất hạn chế, trong những trường hợp có cú sốc thì Ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc chống đỡ rủi ro; Thứ ba, nó làm cho Ngân hàng không thể hiểu và đánh giá đúng mức độ rủi ro của mình, mặc dù trên thực tế có những Ngân hàng có nợ quá hạn rất thấp, nhưng danh mục cho vay lại rủi ro rất lớn vì tập trung quá nhiều dư nợ vào nhóm khách hàng hay ngành rủi ro phá sản cao. Đây chính là luận cứ xây dựng chính sách phân loại nợ, chủ động trích lập quỹ dự phòng và sử dụng quỹ này trong quá trình hạn chế rủi ro. Phân loại rủi ro trong cho vay Rủi ro trong cho vay xảy ra khi người vay không trả được nợ lãi, nợ gốc đầy đủ và đúng hạn.
Theo phương thức quản lý rủi ro tín dụng hiện nay, người ta chia rủi ro trong cho vay thành 4 cấp độ theo mức độ rủi ro: Không thu được lãi đúng hạn: Cấp độ thấp nhất khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó Ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng.