đặt vấn đề như trên thì chưa hoàn toàn thỏa đáng, vì trong quan hệ tín dụng có sự tham gia của ngân hàng và khách hàng; trong đó mỗi bên đều có trách nhiệm và nghĩa vụ, cũng như làm phát sinh những rủi ro nhất định. Vì vậy, rủi ro trong cho vay, nếu được hiểu “ là thiệt hại đối với ngân hàng do không thu hồi nợ đúng hạn và đầy đủ” 12 1. Phân loại rủi ro Rủi ro cho vay được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theo mực tiêu quản lý rủi ro của Ngân hàng Các loại rủi ro thường thấy: - Căn cứ vào tính chất rủi ro: + Rủi ro sai hẹn (rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn hay còn gọi là rủi ro đọng vốn): đó là rủi ro khi người cho vay không thu hồi được nợ vay đúng hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. + Rủi ro mất vốn: rủi ro mất vốn là rủi ro khi người cho vay không thu hồi được toàn bộ hoặc một phần khoản vay,dẫn đến mất vốn.
- Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro + Rủi ro do nguyên nhân khách quan: là những rủi ro mà NH không thể dự đoán được hoặc không thể dự đoán một cách chính xác ảnh hưởng của chúng. Loại rủi ro này thường do các yếu tốt thuộc môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. + Rủi ro do nguyên nhân chủ quan: Là loại rủi ro mà Ngân hàng có thể dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro đó, ước tính được mức độ ảnh hưởng và thời gian phát sinh…để từ đó có thể đưa ra những biện pháp phòng ngừa hợp lý, hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Loại rủi ro này thường xuất phát từ chính bản thân Ngân hàng hoặc khách hàng đi vay.
- Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro + Rủi ro giao dịch: Là hình thức rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: rủi ro lựa chọn (là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng và phương án vay vốn để quyết định cho vay của Ngân hàng); rủi ro đảm bảo (là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như chủ thể đảm bảo, TSĐB, cách thức đảm bảo và mức vay trên giá trị TSĐB); rủi ro nghiệp vụ (là rủi ro liên quan đến 13 công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng rủi ro và xử lý các khoản vay có vấn đề). + Rủi ro danh mục: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng. Rủi ro danh mục được chia thành hai loại: Rủi ro nội tại (là rủi ro xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn) và rủi ro tập trung (là rủi ro Ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao).Tiêu chí đánh giá rủi ro.
Rủi ro là những biến cố xẩy ra ngoài mong đợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Ngân hàng., tuy không thể loại bỏ được hoàn toàn nhưng ta có thể nghiên cứu để nhận biết nó, từ đó có thể đưa ra các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro, giảm thiểu mức độ thiệt hại đến mức thấp nhất. Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro trong cho vay, Ngân hàng có thể cụ thể hóa thành những tiêu chí đánh giá rủi ro hoạt động cho vay của mình: - Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ - Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ - Tỷ lệ nợ mất vốn - Nợ có vấn đề - Tính đa dạng hóa của tài sản - Tình hình tài chính và phương án của người vay hoặc xếp hạng tín dụng của người vay - Bảo đảm tiền vay - Môi trường hoạt động của người vay - Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng. Nợ quá hạn và nợ khó đòi Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn để gia hạn nợ 14 Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ Theo quy định hiện hành của NHNN VN, dư nợ cho vay của NHTM chia làm 5 nhóm. Đó là: - Nhóm 1: gồm các khoản nợ đủ tiêu chuẩn.
- Nhóm 2: gồm các khoản nợ cần chú ý. - Nợ nhóm 3: gồm các khoản nợ dưới tiêu chuẩn. - Nợ nhóm 4: là các khoản nợ nghi ngờ - Nợ nhóm 5:là các khoản nợ có khả năng mất vốn. Theo đó, nợ quá hạn là các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5.
Các tiêu chí này có quan hệ chặt chẽ với nhau và phản ảnh mức độ rủi ro trong cho vay khác nhau. Đối với Ngân hàng, việc khách hàng không trả nợ đúng hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản. Các quan điểm khách nhau và các cách tính khác nhau về kỳ hạn trả nợ và nợ quá hạn có thể làm các tiêu chí này biến dạng: + Do xác định kỳ hạn trả nợ không đúng: Khi cho vay Ngân hàng không quan tâm thích đáng đến chu kỳ SXKD của người vay hoặc do nguồn ngắn hạn chủ yếu, họ đặt kỳ hạn trả nợ ngắn để hạn chế rủi ro. Kỳ hạn trả nợ không phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng nên đến hạn trả nợ người vay không có khả năng trả nợ gây ra nợ quá hạn.
+ Do đảo nợ hoặc giãn nợ: Nhiều khoản vay không có khả năng hoàn trả có thể đảo nợ hoặc giảm nợ quá hạn so với thực tế Ngân hàng có thể giãn nợ đối với khoản vay đó. Những hành vi này làm chỉ tiêu nợ quá hạn hoặc nợ khó đòi không phản ánh đúng bản chất rủi ro tín dụng. + Do chính sách cho vay: Nhiều khoản cho vay khó đòi không thể thu hồi bằng cách phát mãi tài sản, những khoản vay này phần lớn là cho vay theo chỉ thị của Chính phủ. Xử lý khoản nợ này rất phức tạp, nhiều Ngân hàng loại chúng ra khỏi chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ khó đồi mà xếp vào khoanh nợ.
Tuy nhiên chúng vẫn đe dọa vào thu nhập của Ngân hàng, đem lại rủi ro cho ngân hàng.Nợ xấu Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. - Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm (%) giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu= (Dư nợ từ nhóm 2- nhóm 3)/ tổng dư nợ cho vay. Nợ xấu là đại lượng được lịch sử ngân hàng thế giới cũng như ở Việt Nam sử dụng để đánh giá sự lành mạnh hay yếu kém trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao cho thấy hoạt động cho vay của ngân hàng càng yếu kém, khả năng ngân hàng ăn vào vốn tự có càng cao. Theo quy định hiện hành, tiêu chí nợ có khả năng mất vốn không được đề cập đến trong việc quản trị rủi ro trong cho vay của ngân hàng. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, cần thiết lập tiêu chí nợ có khả năng mất vốn để đánh giá rủi ro trong cho vay. Nợ có khả năng mất vốn Dư nợ mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5 bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ cơ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được…Hoặc nợ có khả năng mất vốn là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Tỷ lệ nợ mất vốn = Dư nợ nhóm 5/ Tổng dư nợ cho vay. Tỷ lệ này càng cao cho thấy rằng, cho vay một đồng dư nợ ngân hàng thu về với giá trị càng thấp. Tỷ lệ nợ mất vốn càng cao thì thiệt hại cho Ngân hàng càng lớn vì nó phản ánh những khoản tín dụng bị mất và phải dùng quỹ dự phòng để xử lý.Tỷ lệ nợ không thu hồi được trong quá trình cho vay. Chúng ta thấy rằng, các tỷ lệ nêu trên đánh giá mức độ rủi ro trong cho vay dựa vào số liệu ghi nhận trên cân đối kế toán của ngân hàng, phản ảnh khả năng rủi ro có thể xảy ra.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng, trong quá trình cho vay, nợ quá hạn và nợ xấu ngân hàng có thể thu hồi đầy đủ. Rủi ro trong trường hợp này thuộc diện rủi ro đọng vốn. Vấn đề là ở chỗ, cuối cùng ngân hàng bị mất bao nhiêu vốn do không thu hồi được sau khi đã sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý, nhưng không thu hồi được nợ từ phát mại tài sản bảo đảm,hay từ nguồn khác. Vì vậy, cần có một tiêu chí đánh giá thực tế nợ mà ngân hàng đã không thể thu hồi được.
Nợ không thu hồi được = (Dự phòng rủi ro đã sử dụng – Nợ thu hồi được sau khi xử lý bằng quỹ dự phòng) Tiêu chí này, về ý nghĩa kinh tế, phản ảnh tính biện chứng, tính duy vật trong rủi ro tín dụng. Thực tiễn cho thấy, nhiều ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn thấp, vì đã xử lý bằng quỹ dự phòng. Tuy nhiên, bản chất của vấn đề là quỹ dự phòng đã ăn vào thu nhập ròng từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro.
Nguyên nhân khách quan Do chính sách nhà nước: Chính sách kinh tế vĩ mô ổn định sẽ góp phần giúp cho hoạt động kinh doanh của khách hàng ít biến động làm việc dự báo về tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng cũng thuận lợi.