phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HẠN CHẾ RRTD TẠI SCB BÌNH THUẬN CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG HẠN CHẾ RRTD TẠI SCB BÌNH THUẬN 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan Rủi ro tín dụng tại các NHTM 1.1 Khái niệm rủi ro, tín dụng, tín dụng ngân hàng Rủi ro đƣợc nhiều nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác nhau mà chƣa có đƣợc định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trƣờng phái khác nhau, các tác giả khác nhau đƣa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Theo trƣờng phái truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra với con ngƣời. Theo Allan Willett (1991) cho rằng, rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi.
Theo John Haynes (1895) nghiên cứu thì rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lƣờng đƣợc bằng xác suất. Tuy nhiên, quan điểm đƣợc xem là hiện đại và nhận đƣợc sự đồng tình cao là của Frank H. Knight (1921) khi ông cho rằng, rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lƣờng đƣợc. Nhƣ vậy, theo những quan điểm hiện đại có thể hiểu: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc.
Rủi ro có tính hai mặt: vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực. Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm .nhƣng rủi ro có thể mang đến cho con ngƣời những cơ hội. Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan nhằm phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên chủ thể sở hữu giao một lƣợng giá trị bằng tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng và chủ thể sử dụng có nhiệm vụ hoàn trả với một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu sau một thời gian đƣợc xác định.TS Trần Huy Hoàng, “Quản trị ngân hàng thƣơng mại”, Nhà xuất bản Thống Kê) Tín dụng ngân hàng là một giao dịch vay mƣợn tiền hoặc tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay đƣợc sử dụng 8 tài sản của bên cho vay trong một khoảng thời gian đƣợc thỏa thuận trƣớc và phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và - Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, ngƣời cho vay khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn; - Giá trị hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc; - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.2 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, thông qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Lange (2008) định nghĩa: RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thực hiện đƣợc đầy đủ cả về số lƣợng và thời hạn. Theo Greuning & Brajovic (1999): RRTD đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Koch (1995) cho rằng: RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không đƣợc thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Ngoài ra, theo Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam giải thích: RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng 9 của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Nhƣ vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xảy ra trong các mối quan hệ mà ở đó ngân hàng đóng vai trò chủ nợ, khách hàng là con nợ không thể thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện việc trả nợ khi đến hạn.3 Tác động của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng Khi khách hàng không trả đƣợc gốc và lãi hoặc trả nợ không đúng hạn làm tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhƣ : Tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong hoạt động ngân hàng: Chi phí luôn là một yếu tố quan trọng để thực hiện các nghiệp vụ tại ngân hàng. Khi RRTD xảy ra, chi phí phát sinh sẽ tăng cao, ngân hàng muốn bù đắp đƣợc những khoản tín dụng gặp rủi ro đòi hỏi phải tăng lãi suất cho vay, làm giảm lợi nhuận trong kinh doanh của ngân hàng.
Khi RRTD xảy ra NH không thu đƣợc số vốn nhƣ dự kiến do vậy không quay vòng đƣợc vốn, không bù đắp đƣợc chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động, mất cơ hội đầu tƣ các dự án khả thi, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Suy giảm uy tín của ngân hàng: RRTD xảy ra nó phản ánh hiệu quả kinh doanh, trình độ quản lý của ngân hàng kém hiệu quả. Làm lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng giảm, từ đó làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trƣờng. Uy tín của ngân hàng còn có tác động mạnh tới nghiệp vụ huy động vốn, làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng.
Uy tín ngân hàng giảm cũng làm giảm lòng tin đối với các tổ chức tài chính tiền tệ do vậy ngân hàng cũng sẽ gặp phải khó khăn hơn trong việc vay vốn, thiết lập quan hệ với các tổ chức. Giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, tăng nguy cơ phá sản ngân hàng: Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu hồi đƣợc gốc và lãi dự kiến của số vốn đã cho khách hàng vay, từ đó làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Tình trạng này kéo dài có thể làm ngân hàng mất khả năng thanh toán và phá sản. Việc phá sản ngân hàng có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền gây nên phá sản các ngân hàng khác, nó tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị của quốc gia.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng Hoạt động tín dụng là lĩnh vực nghiệp vụ phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro nhƣng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng.
Vì vậy, nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến RRTD tại NHTM là thực sự cần thiết để các ngân hàng có đƣợc các giải pháp cần thiết để hạn chế rủi ro và đạt đƣợc hiệu quả hoạt động kinh doanh cao nhất. RRTD có nguyên nhân từ nhiều phía: từ phía ngƣời cho vay, từ phía ngƣời đi vay và cả từ môi trƣờng kinh doanh. Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh Môi trƣờng kinh doanh là tác nhân gây ra RRTD bất khả kháng, xảy ra ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của con ngƣời trong một thời điểm nào đó. Từ môi trường kinh tế: trong một nền kinh tế tăng trƣởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội còn lớn thì hoạt động sản xuất kinh doanh còn có nhiều cơ hội để phát triển và ngƣợc lại, khi nền kinh tế có hiện tƣợng lạm phát tăng vọt kéo theo đồng tiền nội địa bị mất giá, dẫn đến kinh doanh trong nƣớc bị trở ngại và khó khăn, khiến cho khả năng thu hồi vốn tín dụng trở nên phức tạp.
Bên cạnh đó là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng nƣớc ngoài có tiềm lực vƣợt trội (về vốn, quy mô, công nghệ, sản phẩm, chất lƣợng dịch vụ) và các NHTM trong nƣớc, từ đó làm tăng nguy cơ các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nƣớc ngoài thu hút. Từ môi trường pháp lý: rủi ro do môi trƣờng pháp lý chƣa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phƣơng sẽ ảnh hƣởng tới khả năng phát sinh RRTD, đồng thời là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Hay sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chƣa hiệu quả của NHNN. Sự bất ổn về kinh tế của các nƣớc sẽ ảnh hƣởng đến nền kinh tế của nƣớc khác hay các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính trên thế giới xảy ra là nguyên nhân gây ra rủi ro của cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Sự biến động quá nhanh và không dự đoán đƣợc của thị trƣờng thế giới cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro. 11 Sự thay đổi của môi trƣờng tự nhiên nhƣ thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh. Sự tấn công của hàng nhập lậu làm ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ hệ thống thông tin: Trong việc quản lý thông tin, nƣớc ta chƣa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về doanh nghiệp và ngân hàng.
Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) cũng chỉ cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhƣng chƣa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, các thông tin cung cấp còn đơn điệu, chƣa đáp ứng đƣợc đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin. Nguyên nhân từ ngân hàng Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt đi vay với lãi suất thấp và sau đó cho vay lại với lãi suất cao hơn để hƣởng chênh lệch lãi suất. Do đó, ngân hàng luôn xem xét rất cẩn thận trƣớc khi cho vay để đạt hiệu quả và tránh rủi ro mất vốn.