CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng Luan van 17 1. Tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, hiểu một cách thông thường nhất, tín dụng là sự vay mượn. Cho đến nay người ta vẫn chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về tín dụng.
Theo quan điểm truyền thống ,tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả cả gốc và lãi theo các điều kiện đã thoả thụân trong hợp đồng đã ký kết. Căn cứ theo khoản 14 Điều 4 của Luật TCTD 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Phân loại Tín dụng ngân hàng Trong nền KTTT, hoạt động TD rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý TD có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại TD.
Có nhiều tiêu thức phân loại TD khác nhau: - Căn cứ vào thời hạn tín dụng: có thể chia TD 3 loại : + TD ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn đến 1 năm (≤12 tháng) bổ sung nhu cầu vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân. Là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô. Vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác. + TD trung hạn :Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm (>12 tháng đến 60 tháng).
Loại TD này thường được sử dụng để cho vay mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, mua sắm thiết bị có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Là loại tín dụng có mức rủi ro trung bình. Luan van 18 + TD dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm (trên 60 tháng). Loại tín dụng này thường được sử dụng để đầu tư cho vay các công trình xây dựng cơ bản với qui mô lớn, mua sắm thiết bị dây chuyền công nghệ hiện đại.
Loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. - Căn cứ vào đối tượng tín dụng: chia thành 2 loại + Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ vật tư , nguyên nhiên vật liệu, hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất. + Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố định như xây dựng cơ bản công trình mới, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn có 2 loại + Tín dụng đầu tư sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng được cung cấp cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân để tiến hành sản xuất và kinh doanh. + Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cho vay khách hàng cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống. - Căn cứ mức độ đảm bảo + Tín dụng đảm bảo: Là hình thức tín dụng có tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay. + Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà hoàn toàn dựa trên uy tín của khách hàng.
- Căn cứ vào loại tiền + Tín dụng bằng đồng nội tệ + Tín dụng ngoại tệ hoặc bằng vàng. - Căn cứ theo khách hàng + Tín dụng cấp cho doanh nghiệp + Tín dụng cho khách hàng cá nhân, hộ sản xuất Luan van 19 Ngoài ra còn có một số tiêu thức khác như căn cứ vào xuất xứ của tín dụng có tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.Vai trò của tín dụng ngân hàng * Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển của nền kinh tế: - TDNH thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp, không chỉ đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước mà còn tác động đến cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Tín dụng thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.
TDNH tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất,kinh doanh, dịch vụ, lưu thông hàng hoá của các Tổ chức kinh tế, cá nhân ngay cả những hoạt động phục vụ đời sống cũng không thể tách ra khỏi sự hỗ trợ của TDNH. Nói chung, một trong những nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn lưu động và vốn cố định cho các chủ doanh nghiệp là vốn TDNH vì nếu chỉ dựa vào vốn tự có thì quá ít ỏi, không đủ sức cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế thị trường. TDNH sẽ là nguồn vốn tài trợ quan trọng cho các dự án kinh doanh của doanh nghiệp mới. - TDNH là đòn bẩy kinh tế để thực hiện việc đầu tư các dự án mới, tái sản xuất mở rộng, cải tiến công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và hiệu quả kinh tế, tạo nhiều sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Ngân hàng với chức năng huy động vốn, tập trung mọi nguồn vốn trong và ngoài nước đã phần nào đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế. - TDNH là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, và các chương trình, dự án mang tính xã hội khác. Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người, giải quyết việc làm không thể chỉ dựa vào quỹ ngân sách Nhà nước hoặc trông chờ vào các khoản vay nước ngoài. Luan van 20 TDNH thực sự giữ vai trò quan trọng trong việc đầu tư cho các dự án có ý nghĩa kinh tế và xã hội để giải quyết những mục tiêu nói trên.
- TDNH thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản xuất mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước và quốc tế. Các doanh nghiệp, các Công ty làm ăn có hiệu quả và uy tín được ngân hàng tập trung đầu tư vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ. TDNH sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung và tích luỹ vốn, tạo cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nước ngoài đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. - Thông qua hoạt động TDNH, Nhà nước có thể kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách về tín dụng như là các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điều kiện cho vay khác cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo mục tiêu định hướng phát triển kinh tế về bình ổn giá cả những mặt hàng trọng yếu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng nhằm góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,bảo đảm an sinh xã hội.
Phát huy vai trò của TDNH để đạt mục tiêu phát triển là một nhiệm vụ đầy khó khăn thử thách. Song song với việc này là phải đảm bảo an toàn tín dụng và đó là mục tiêu lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung. * Vai trò của tín dụng đối với hoạt động của NHTM Hoạt động tín dụng ngân hàng là một trong các hoạt động tiền đề cho sự ra đời của NHTM, đây cũng là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Bởi vì, khoản mục tín dụng chiếm khoảng 70% đến 80% trên tổng tài sản và tín dụng này mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng.
Vì vậy việc duy trì, mở rộng và phát triển tín dụng mang một ý nghĩa sống còn với các NHTM. Khi các ngân hàng không thực hiện được duy trì và mở rộng tín dụng thì vốn ngân hàng huy động được sẽ bị ứ đọng, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho phần vốn ứ đọng trong khi không có thu nhập từ lãi cho vay từ đó dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ và có khả năng rơi vào tình trạng phá sản. Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng và mở rộng hoạt động Luan van 21 tín dụng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng phát triển thêm các hoạt động khác như mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, dịch vụ tư vấn, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, ATM. kết quả là ngân hàng vừa tăng được nguồn vốn, vừa phát triển được các hoạt động dịch vụ tăng thu nhập cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.[3] Rủi ro trong kinh doanh NH là khả năng mà một tiến trình hoặc một sự kiện nào đó gây ra một kết cục không mong đợi lên tình hình tài chính của NH hoặc cản trở NH thực hiện các mục tiêu đã định.