phần mở đầu và kết luận. Đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thƣơng Mại. Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank – chi nhánh Trung Yên. Chƣơng 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank – chi nhánh Trung Yên.
9 CHƢƠNG 1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Thuật ngữ “Tín dụng” (credit) xuất phát từ chữ Latinh là Credo nghĩa là tin tƣởng, tín nhiệm. Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng đối tƣợng và hoàn cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Xét về khía cạnh tiền tệ, tín dụng là quan hệ vay mƣợn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tƣởng số vốn đó sẽ đƣợc hoàn trả vào một ngày xác định trong tƣơng lai và đƣợc định nghĩa một cách đầy đủ nhƣ sau: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng, để sau một khoảng thời gian thỏa thuận nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”[3]. Xét về khía cạnh chức năng hoạt động của ngân hàng, tín dụng đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác).
Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán. Đặc trƣng của tín dụng Quan hệ tín dụng có bốn đặc trƣng cơ bản là: Lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro. 10 - Lòng tin: Ngƣời ta chỉ cho vay khi họ tin tƣởng. Ngƣời đi vay có ý muốn trả nợ và có khả năng trả nợ, đồng thời ngƣời ta tin rằng ngƣời sử dụng lƣợng giá trị đó sẽ thu đƣợc lƣợng giá trị lớn hơn, đạt hiệu quả sau một thời gian nhất định.
Nghĩa là, ngƣời cho vay tin tƣởng ngƣời đi vay sử dụng tiền vay có hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc có nguồn thu khác (đối với ngƣời tiêu dùng) thì ngƣời đi vay mới có khả năng trả nợ cho ngƣời cho vay. Đồng thời, ngƣời cho vay cũng tin tƣởng ngƣời đi vay có ý muốn trả nợ thì quan hệ tín dụng mới xảy ra. - Tính hoàn trả: Đối với quan hệ tín dụng thì đây là đặc trƣng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tài chính khác. Mặt khác, không có sự hoàn trả thì đó là một quan hệ tín dụng không hoàn hảo.
Không có sự hoàn trả sẽ làm cho ngƣời cho vay không thu hồi đƣợc vốn, dẫn đến thua lỗ, phá sản, đi ngƣợc lại mục đích của kinh doanh. - Tính thời hạn: Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, ngƣời cho vay tin tƣởng ngƣời đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tƣơng lai mà hai bên đã thỏa thuận. Ngƣời đi vay chỉ đƣợc sử dụng tạm thời trong thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, ngƣời đi vay phải hoàn trả cho ngƣời cho vay. - Tín dụng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro: Do sự bất cân xứng về thông tin, ngƣời cho vay không hiểu rõ về ngƣời đi vay.
Một mối quan hệ tín dụng đƣợc gọi là hoàn hảo nếu ngƣời đi vay hoàn trả đƣợc đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn. Tuy nhiên, không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy mà vẫn không hiếm trƣờng hợp ngƣời đi vay không thực hiện đƣợc nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ. Đó là trƣờng hợp khi đến thời hạn, ngƣời đi vay không thể thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn vay dẫn đến khoản nợ bị quá hạn. Nợ quá hạn là sự báo hiệu của rủi ro tín dụng.
Các loại hình tín dụng ngân hàng 11 * Căn cứ vào thời hạn cho vay: - Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dƣới 12 tháng, đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Có hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại tín dụng này chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro cao.
- Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên 60 tháng. Loại hình tín dụng này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu dài hạn nhƣ: xây dựng nhà xƣởng, các thiết bị phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro rất cao. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: - Tín dụng sản xuất và lƣu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cấp cho các chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất và lƣu thông hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân nhƣ mua sắm nhà cửa, phƣơng tiện đi lại, các loại hàng hóa tiêu dùng. * Căn cứ vào sự đảm bảo: - Tín dụng có đảm bảo không bằng tài sản (tín chấp): Là loại hình không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. - Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi ngƣời vay vốn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
* Căn cứ vào hình thái tín dụng: - Tín dụng bằng tiền mặt: Là loại hình tín dụng mà hình thái giá trị tín 12 dụng đƣợc cấp bằng tiền. - Tín dụng bằng tài sản: Là loại tín dụng mà hình thái giá trị của tín dụng đƣợc cấp bằng tài sản. Đối với ngân hàng thƣơng mại, hình thức tín dụng này thể hiện chủ yếu dƣới hình thức tín dụng thuê mua. * Căn cứ vào phương pháp cho vay: - Tín dụng trực tiếp: Là loại tín dụng mà ngƣời vay trực tiếp tiền vay và trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng thƣơng mại.
- Tín dụng gián tiếp: Là loại tín dụng mà quan hệ tín dụng có thông qua (hay liên quan đến ngƣời thứ ba). * Căn cứ vào phương thức hoàn trả: - Tín dụng trả góp: Là loại hình tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả lại vốn gốc và lãi theo định kỳ. - Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng đƣợc thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận thƣờng áp dụng cho vay vốn lƣu động. - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại hình tín dụng mà ngƣời vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập.
Ngân hàng không ấn định thời hạn nào, áp dụng cho vay thấu chi. RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng 1.Quan điểm về rủi ro tín dụng của ngân hàng Khái niệm: Rủi ro tín dụng (Credit risk) là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy đủ vốn và lãi [7]. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
Trong trƣờng hợp ngƣời vay tiền bị phá sản, thì việc thu 13 hồi gốc và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là sự tổn thất, mất mát về tài chính mà Ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn của ngân hàng không trả nợ đƣợc đúng hạn, không thực hiện đúng cam kết với bất kỳ lí do nào. Có thể định nghĩa rủi ro tín dụng theo tài liệu “Financial Institutions Management - A modern perspective”, A.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện đầy đủ về cả số lƣợng và thời hạn. Nền kinh tế thị trƣờng, trong môi trƣờng kinh doanh luôn biến động, thì tính ổn định trong các đơn vị, các tổ chức kinh tế mang tính chất tƣơng đối.
Khi doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng để kinh doanh mà gặp phải rủi ro mất khả năng thanh toán nợ, chính là rủi ro của Ngân hàng. Rủi ro rất đa dạng, nó có thể là rủi ro bị ứ đọng vốn, rủi ro thiếu vốn khả dụng, rủi ro khi các vật đảm bảo tín dụng không còn giá trị nhƣ khi đánh giá ban đầu trƣớc khi cho vay, rủi ro không thu hồi đƣợc nợ. Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ xem xét rủi ro khi ngân hàng không thu hồi đƣợc nợ hay còn gọi là nợ quá hạn, nợ khó đòi. 14 Rủi ro tín dụng Không thu đƣợc Không thu đƣợc Không thu đủ lãi Không thu đủ lãi đúng hạn vốn đúng hạn vốn cho vay Lãi treo phát Nợ quá hạn Lãi treo đúng 1.
Nợ không có sinh phát sinh bang khả năng thu Không thu đủ hồi lãi 2.1: Mô hình rủi ro tín dụng của Ngân hàng 1. Các hình thức rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những rủi ro gắn liền với khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng bao gồm: * Rủi ro đọng vốn: Đây là loại rủi ro tín dụng do khách hàng không hoàn trả khoản nợ đúng hạn theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này là do trễ hẹn.