CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Tín dụng ngân hàng thương mại a. Đặc điểm và vai trò tín dụng ngân hàng Đặc điểm tín dụng ngân hàng Các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế là tất yếu và rất phức tạp, tùy theo góc độ quan tâm mà người ta tiến hành phân loại tín dụng theo các tiêu thức khác nhau.
Theo quan điểm Các Mác: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.” [1, tr120] Kinh tế học hiện đại cho rằng: Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao quyền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc là hàng hoá) giữa bên cho vay (là ngân hàng hoặc các định chế tài chính) và bên đi vay (là các doanh nghiệp, các cá nhân hoặc các chủ thể khác). Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của hai bên đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi vay cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Cụ thể, căn cứ Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QHXII đã Luan van 9 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 thì khái niệm cấp tín dụng được làm rõ hơn “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” [8] Do đó, bản chất của tín dụng được thể hiện qua các nội dung sau: - Người cho vay chuyển cho người vay một lượng giá trị nhất định.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay phần gốc cộng với khoản chi phí cơ hội mà người cho vay mất đi khi bỏ lỡ cơ hội tốt hơn. Qua đó cho thấy, tín dụng ngân hàng phản ảnh mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và dùng số tiền huy động đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đây là một trong những hoạt động mang tính truyền thống và đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại.
Từ những khái niệm trên có thể rút ra được đặc điểm của tín dụng ngân hàng, bao gồm: - Tín dụng Ngân hàng là hình thức tín dụng gián tiếp - Tín dụng Ngân hàng thực hiện cho vay và thu nợ được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tiền tệ, nguồn vốn mà các Ngân hàng sử dụng cho vay hình thành từ những nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Luan van 10 - Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng, người cho vay là các Ngân hàng, người đi vay là các tổ chức và cá nhân. Vai trò của tín dụng ngân hàng - Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển. Quan hệ tín dụng thực hiện kết nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn trong nước và ngoài nước.
Tín dụng khai thác các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội, các quỹ tiền tệ đang tồn đọng trong lưu thông đưa nhanh vào phục vụ cho sản xuất tiêu dùng xã hội, góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Phát triển là một giải pháp để tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường, do đó các doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, vì vậy nhu cầu về vốn luôn là mối quan tâm hàng đầu. Nhưng trên thực tế quá trình tích tụ vốn không bao giờ tăng kịp so với tốc độ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tận dụng các dòng chảy của vốn trong xã hội để thực hiện quá trình tập trung vốn. Tín dụng, với tư cách tập trung và phân phối lại vốn, sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu về vốn cho xã hội, tạo nên một động lực lớn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Như vậy, tín dụng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy vốn, nhanh chóng mở rộng đầu tư sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển, vừa góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế. - Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả. Thông qua tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn và cho vay, thực hiện nghiệp vụ điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tín dụng góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Lượng tiền tồn đọng trong lưu thông giảm xuống nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu luân chuyển hàng hóa bình thường, thiết lập mối quan hệ cân đối tiền – hàng làm cho hệ thống giá cả không bị biến động lớn.
Tín dụng là một biện pháp quan trọng Luan van 11 được nhà nước sử dụng trong giai đoạn nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng, việc mở rộng quan hệ tín dụng nhà nước với các nước cũng như với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế sẽ làm tăng các nguồn thu tài chính, đảm bảo cho nhà nước có thể can thiệp hữu hiệu vào thị trường để ổn định tình hình tài chính tiền tệ quốc gia. - Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội. Trong tín dụng tiêu dùng, những nhà sản xuất kinh doanh hoặc các tổ chức tín dụng cấp tín dụng dưới hình thức hàng hóa tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các tư liệu sinh hoạt…đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống, sinh hoạt ngày càng cao của người dân. Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất, rừng … do đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản xuất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng không những là hoạt động quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng mà còn có vai trò to lớn ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của cả kinh tế - xã hội. Các nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng Nguyên tắc hoàn trả Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động tín dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ tín dụng, là cơ sở để đảm bảo cho ngân hàng kinh doanh. Theo nguyên tắc này thì vốn vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn.
Trước khi cấp tiền vay, các ngân hàng phải có cơ sở để tin rằng người vay có thiện chí và khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Nếu không hợp đồng tín dụng sẽ không được ký kết. Nguyên tắc vốn vay phải có mục đích sử dụng hợp pháp, sử dụng vốn vay đúng mục đích và hiệu quả Luan van 12 Mục đích của tín dụng ngân hàng là thông qua hoạt động cho vay để thúc đẩy đời sống kinh tế xã hội phát triển. Ngân hàng không cho vay để thực hiện những hoạt động kinh doanh trái phép, trái chức năng.
Vì vậy, khách hàng vay phải cho ngân hàng thấy được mục đích và khả năng sử dụng vốn của mình có hiệu quả thông qua các phương án, dự án đầu tư nhằm bảo đảm được việc hoàn trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Qua đây ngân hàng có thể xác định được hiệu quả cho vay, đo lường rủi ro và tính khả thi của đề nghị vay. Ngân hàng có quyền đình chỉ hoặc thu hồi nợ nếu phát hiện bên vay không tôn trọng nguyên tắc cho vay. Mặt khác, việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng giúp cho ngân hàng giảm thiểu được rủi ro cho vay.
Do đó, trong suốt quá trình khách hàng sử dụng nợ vay, ngân hàng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra và kịp thời áp dụng các biện pháp chế tài đối với khách hàng vi phạm hợp đồng. Nguyên tắc có bảo đảm tiền vay Trong nền kinh tế thị trường việc dự báo chính xác các sự kiện sẽ xảy ra là rất khó. Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, nhất là trong các hoạt động tín dụng các Ngân hàng luôn đòi hỏi điều kiện đảm bảo cho khoản vay. Nguyên tắc này được đưa ra nhằm để đảm bảo quan hệ cân đối tiền hàng, tôn trọng quy luật lưu thông tiền tệ.
Có như vậy mới tạo ra điều kiện cho sự vận động tín dụng nói riêng và của đồng vốn nói chung gắn liền với quá trình vận động của nền kinh tế, tránh được lạm phát tín dụng, mất ổn định trong nền kinh tế. Đồng thời thực hiện nguyên tắc có bảo đảm tiền vay sẽ là cơ sở của khả năng trả nợ, là cơ sở để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong nhiều trường hợp khác nhau.