CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Trang 1 Nghiên cứu giải pháp dọn bùn bể chứa nước làm mát Nhà máy Đạm Cà Mau 1. SƠ LƯỢC VỀ THÁP LÀM MÁT VÀ SỰ HÌNH THÀNH LỚP BÙN LẮNG 1. Sơ lược về tháp làm mát: Hiện nay nhiều nhà máy, xí nghiệp dùng những bể chứa nước rất lớn để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Đối với các nhà máy sản xuất thép và nhà máy lọc dầu thì lưu lượng sử dụng nước công nghiệp lên đến hàng chục nghìn mét khối và có các đơn vị chuyên biệt hoạt động với ngân sách lớn chỉ tập trung vào quản lý nước công nghiệp.
Trong đó, nước được dùng để làm mát hay làm mát ở các nhà máy được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, có thể từ sông, hồ hoặc các nguồn khác và sẽ xuất hiện nhiều tạp chất như phù sa, đất sét, chất thải hữu cơ hoặc muối hoà tan thấp. Hơn nữa, trong các hệ thống mà nước làm mát được đi qua các tháp làm mát và sau đó được tuần hoàn lại, các chất rắn trong không khí có thể bị cuốn vào trong nước khi nó đi qua tháp, và sau đó lắng đọng trong hệ thống theo cách tương tự như phù sa tự nhiên. Các cặn phù sa này có thể ảnh hưởng đến hệ thống, xử lý nước trong tháp làm mát của bạn không chỉ là giữ cho hệ thống sạch sẽ. Nó cũng ngăn ngừa sự ăn mòn và hình thành cáu cặn cũng như sự phát triển của vi sinh vật.
Nếu không được xử lý, vi khuẩn và tảo sẽ xâm nhập, dẫn đến sự ăn mòn do a xit vi khuẩn và nhiều vấn đề khác trong toàn bộ hệ thống của nhà máy. Tháp làm mát hay tháp giải nhiệt điển hình ở các nhà máy Đối với những nhà máy có sử dụng các thiết bị lò hơi, turbine, Pump trong quá trình vận hành, các thiết bị này sẽ sinh ra một lượng nhiệt lớn, nếu không được làm mát kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến sự vận hành của hệ thống và sự hoạt động của thiết bị. Tháp làm mát là một hệ thống nước tuần hoàn được sử dụng để giảm nhiệt độ của dòng nước bằng cách trích nhiệt từ nước và thải ra khí quyển. Tháp làm mát (hình Trang 2 Nghiên cứu giải pháp dọn bùn bể chứa nước làm mát Nhà máy Đạm Cà Mau 1.1) [1] tận dụng sự bay hơi nhờ đó nước được bay hơi vào không khí và thải ra khí quyển.
Kết quả là, phần nước còn lại được làm mát đáng kể. Tháp làm mát có thể làm giảm nhiệt độ của nước thấp hơn so với các thiết bị chỉ sử dụng không khí để loại bỏ nhiệt, sử dụng tháp làm mát mang lại hiệu quả cao hơn về mặt năng lượng và chi phí. Tháp làm mát được thiết kế và xây dựng dưới nhiều dạng khác nhau, tuy nhiên nếu dựa vào nguyên lý làm việc thì tháp làm mát thuộc hai loại sau đây Tháp làm mát đối lưu tự nhiên (hình 1.2) hay còn gọi là tháp làm mát hypecbol sử dụng sự chênh lệch nhiệt độ giữa không khí môi trường xung quanh và không khí nóng hơn trong tháp [1]. Khi không khí nóng chuyển dịch lên phía trên trong tháp (do không khí nóng tăng), luồng không khí mát mới đi vào tháp qua bộ phận khí vào ở đáy tháp.
Không cần sử dụng quạt và không có sự luân chuyển của không khí nóng có thể gây ảnh hưởng đến hiệu suất nhờ sơ đồ bố trí của tháp. Vỏ tháp chủ yếu làm bằng bê tông, cao khoảng 200 m. Những tháp làm mát này thường chỉ dùng cho nhu cầu nhiệt lớn vì kết cấu bằng bê tông lớn đắt tiền. Tháp làm mát dạng đối lưu tự nhiên a) Cấu tạo bên trong; b) Vỏ tháp bên ngoài Tháp làm mát đối lưu cơ học (hình 1.3) có các quạt lớn để hút khí cưỡng bức trong nước lưu thông [1].
Nước chảy xuống dưới trên bề mặt các khối đệm, làm tăng thời gian tiếp xúc giữa nước và không khí giúp tối đa hoá quá trình truyền nhiệt giữa nước và không khí. Tỉ lệ làm mát của tháp đối lưu cơ học phụ thuộc vào rất nhiều thông số khác nhau như đường kính quạt và tốc độ hoạt động, khối đệm trở lực của hệ thống. Trang 3 Nghiên cứu giải pháp dọn bùn bể chứa nước làm mát Nhà máy Đạm Cà Mau Tháp đối lưu cơ học hiện nay sẵn có với dải công suất rất rộng. Tháp có thể được xây tại nhà máy hoặc cánh đồng – ví dụ như các tháp bằng bê tông chỉ được xây ở cánh đồng.
Rất nhiều tháp được xây dựng theo cách có thể hoạt động cùng nhau để đạt được công suất mong muốn. Vì vậy rất nhiều tháp làm mát được nối với nhau gồm từ hai tháp riêng lẻ trở lên, gọi là “ô” Số lượng ô, các tháp nhiều ô có thể theo hàng, vuông hoặc tròn phụ thuộc vào hình dạng của ô và tuỳ theo phần lấy khí vào được đặt ở bên cạnh hay đáy của ô a) b) Hình 1. Tháp làm mát đối lưu cưỡng bức a) Cơ cấu bên trong; b) Phần vỏ tháp nhìn bên ngoài. Về kết cấu, tháp làm mát bao gồm thân tháp, bể chứa nước làm mát khối đệm, tấm chắn nước, cửa khí vào, vòi và quạt.
Thân tháp: Thân tháp chiếm gần như toàn bộ bộ kích thước tháp là kết cấu gồm các cột có tác dụng như khung dầm, bệ đỡ để lắp động cơ, quạt và các bộ phận khác. Khối đệm: Khối đệm (hình 1.4)có tác dụng hỗ trợ trao đổi nhiệt nhờ tăng tiếp xúc giữa nước và không khí. Chủ yếu có 2 loại khối đệm sau đây: Khối đệm dạng phun: nước rơi trên các thanh chắn nằm ngang và liên tiếp bắn toé thành những giọt nhở hơn, đồng thời làm ướt bề mặt khối đệm hối đệm dạng phun bằng nhựa giúp tăng trao đổi nhiệt tốt hơn. Khối đệm màng: bao gồm các tấm màng nhựa mỏng đặt sát nhau, nước sẽ rơi trên đó, tạo ra một lớp màng mỏng tiếp xúc với không khí.
Bề mặt này có thể phẳng, nhăn, rỗ tổ ong hoặc các loại khác. Loại màng của khối đệm này hiệu quả hơn và tạo ra mức trao đổi nhiệt tương tự với lưu lượng nhỏ hơn so với khối đệm dạng phun. Trang 4 Nghiên cứu giải pháp dọn bùn bể chứa nước làm mát Nhà máy Đạm Cà Mau a) b) Hình 1. Khối đệm dạng phun (a) và khối đệm dạng màng (b) Bể chứa nước làm mát: Bể nước làm mát là nơi nhận nguồn nước cấp, hoá chất xử lý vi sinh, xử lý độ pH nên còn được gọi là bể cân bằng thường được thiết kế ở đáy tháp để nhận dòng nước hồi lưu chảy xuống qua khối đệm trong tháp.
Đối với các thiết kế đối lưu ngược dòng, nước ở đáy khối đệm được nối với một vành đai đóng vai trò như bể nước lạnh. Quạt hút được lắp dưới khối đệm để hút khí từ dưới lên. Với thiết kế này, tháp được lắp thêm chân, giúp dễ lắp quạt và động cơ. Tấm chắn nước.
Thiết bị này thu những giọt nước kẹt trong dòng không khí, nếu không chúng sẽ bị mất vào khí quyển. Bộ phận khí vào: Đây là bộ phận lấy khí vào tháp. Bộ phận này có thể chiếm toàn bộ một phía của tháp (thiết kế dòng chảy ngang) hoặc đặt phía dưới một phía hoặc dưới đáy tháp (thiết kế dòng ngược). Cửa không khí vào: Thông thường, các tháp dòng ngang có cửa lấy khí vào.
Mục đích của các cửa này là cân bằng lưu lượng khí vào khối đệm và giữ lại nước trong tháp. Rất nhiều thiết kế tháp ngược dòng không cần cửa lấy khí. Vòi phun: Vòi phun nước để làm ướt khối đệm. Phân phối nước đồng đều ở phần trên của khối đệm là cần thiết để đạt được độ ướt thích hợp của bề mặt khối đệm.
Vòi có thể được cố định hoặc phun theo hình vuông hoặc tròn, hoặc vòi có thể là một bộ phận của dây chuyền quay như thường gặp ở một số tháp giản nhiệt đối lưu ngang. Quạt: Cả quạt hướng trục hay quạt đẩy và quạt ly tâm đều được sử dụng trong tháp. Thông thường quạt đẩy được sử dụng trong thông gió và cả quạt ly tâm và quạt đẩy đều được sử dụng để thông gió cưỡng bức trong tháp. Tùy theo kích thước, có thể sử dụng quạt đẩy cố định hay độ nghiêng cánh biến đổi.
Quạt với cánh nghiêng điều chỉnh không tự động được sử dụng trong dải kW rộng vì quạt có thể được điều chỉnh để luân chuyển lưu lượng khí mong muốn ở mức tiêu thụ năng lượng thấp nhất. Cánh nghiêng biến đổi tự động có thể thay đổi lưu lượng khí theo điều kiện tải thay đổi. Trang 5 Nghiên cứu giải pháp dọn bùn bể chứa nước làm mát Nhà máy Đạm Cà Mau 1. Sự hình thành lớp bùn lắng trong bể chứa nước tháp làm mát Trong quá trình vận hành, nước làm mát cần được loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng đến sự ăn mòn thiết bị cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trao đổi nhiệt với thiết bị, do đó nước làm mát phải được xử lý hoá học, vi sinh để ổn định độ pH cũng như loại bỏ các vi sinh vật, loại bỏ các kim loại, chất rắn trong nguồn nước.
Quá trình xử lý nước này đã hình thành nên các loại vật chất rắn lắng đọng trong nước hình thành nên bùn từ nhiêu dạng khác nhau, từ cặn bã, huyền phù cho đến chất rắn, kim loại nặng, phù sa, sinh vật. Lớp bùn lắng này cũng phụ thuộc vào nguồn nước cung cấp và bộ phận sàn lọc nước đầu vào ở mỗi nhà máy, xí nghiệp. Bùn trong các bể chứa nước làm mát được xử lý hoá chất và vi sinh định kỳ để đảm bảo không hình thành cặn bã bám vào các thiết bị được làm mát cũng như đảm bảo khả năng làm mát của nước. Khi bùn được xử lý, các chất rắn sinh học thu được có thể được phân loại theo phương pháp xử lý, chẳng hạn như tiêu hóa hiếu khí, tiêu hóa kỵ khí, ổn định kiềm, ủ và nhiệt khô.
Bùn được xử lý có thể chỉ là bùn sơ cấp, thứ cấp hoặc hóa học, hoặc hỗn hợp của bất kỳ hai hoặc ba trong số các bùn. Các ống trao đổi nhiệt bị đóng cáu Trong hệ thống làm mát, các bề mặt trao đổi nhiệt rất dễ bị bám bẩn. Loại bám bẩn phổ biến nhất là đóng cáu (scaling), thường liên quan đến sự phát triển dần dần của một lớp khoáng chất (hình 1. Thông thường, cáu cặn hình thành từ canxi hoặc muối dựa trên độ cứng của nước, thành phần khoáng chất trong nước làm mát sẽ tạo thành các muối/cặn tiếp theo như canxi cacbonat, canxi photphat, magie silicat và canxi sunfat [2].