CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC VÀ VAI TRÒ CỦA NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ AN NINH NĂNG LƯỢNG 1. KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1. Khái niệm chiến lược 1. Các khái niệm về chiến lược: Từ trước tới nay, có nhiều quan điểm nhìn nhận về chiến lược: - Webster’s New World Dictionary: “Chiến lược” được coi là “khoa học về hoạch định và điều khiển các hoạt động quân sự”.
- Alfred Chandler: “Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của DN, đồng thời lựa chọn cách thức & tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. - MiChael Porter: “Chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Hay nói cách khác, chiến lược của một ngành hay một tổ chức là một kế hoạch toàn diện chỉ ra những cách thức mà ngành hay tổ chức đó có thể đạt được nhiệm vụ và mục tiêu của nó, đáp ứng tương thích với những thay đổi của tình thế cũng như xảy ra các sự kiện bất thường. Chiến lược nhằm tối đa hóa lợi thế cạnh tranh và tối thiếu hoá những bất lợi cho ngành hay tổ chức.
Chiến lược kinh doanh có thể gồm sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh. Khái niệm quản lý chiến lược - Quản trị chiến lược: Quản trị chiến lược được định nghĩa là một tập hợp các quyết định và hành động được thể hiện thông qua kết quả của việc hoạch định, thực thi và đánh giá các chiến lược, được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu của một doanh nghiệp, tổ chức trong thời hạn của chiến lược. Đỗ Đức Tưởng – Cao học 2006 - QTKD 8 Xây dựng giải pháp chiến lược cho thương mại hóa năng lượng tái tạo ở Việt Nam - Một quá trình quản trị chiến lược bao gồm 3 giai đoạn chính: hoạch định chiến lược, thực thi chiến lược và đánh giá chiến lược. - Hoạch định chiến lược: + Hoạch định tầm nhìn và nhiệm vụ + Phân tích cơ hội và đe dọa bên ngoài + Phân tích điểm mạnh, điểm yếu bên trong + Thiết lập các mục tiêu dài hạn + Hoạch định các chiến lược + Lựa chọn chiến lược - Kiểm tra chiến lược: + Thiết lập các mục tiêu hàng năm + Hoạch định các chính sách + Phát triển nhân sự + Phân bổ nguồn lực - Đánh giá chiến lược: + Xem xét lại môi trường bên trong + Xem xét lại môi trường bên ngoài + Thiết lập ma trận đánh giá thành công + Đề xuất các hành động điều chỉnh 1.
Phân loại chiến lược: Chiến lược phát triển một ngành kinh tế có những nét đặc trưng cơ bản như sau: - Xác định rõ những mục tiêu cơ bản mà ngành đó cần phải đạt được ở từng thời kỳ và phải được quán triệt ở mọi cấp trong tổ chức, ở mọi mặt trong họat động của ngành - Đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tối ưu việc khai thác, sử dụng các nguồn lực nhằm phát huy lợi thế trong cạnh tranh - Chiến lược phát triển được xây dựng và thực hiện trong một thời gian tương đối dài Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân chia ra các loại chiến lược khác nhau để thực hiện quản lý một cách có hiệu quả. Đỗ Đức Tưởng – Cao học 2006 - QTKD 9 Xây dựng giải pháp chiến lược cho thương mại hóa năng lượng tái tạo ở Việt Nam - Theo phạm vi, có thể chia chiến lược thành 3 cấp: Chiến lược công ty, chiến lược cấp đơn vị kinh doanh, và chiến lược ở cấp bộ phận quản lý chức năng. - Theo hướng tiếp cận dành lợi thế cạnh tranh, chia ra: chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt, chiến lược phát huy ưu thế tương đối, chiến lược sáng tạo tiến công, chiến lược khai thác các khoảng trống trên thị trường. Tùy theo kết cấu, quy mô của mỗi tổ chức mà có thể lựa chọn mô hình chiến lược phù hợp.
Tầm quan trọng của quản trị chiến lược: Ngày nay, không chỉ có quá trình quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật, mà môi trường kinh doanh cũng thay đổi nhanh chóng. Điều này đòi hỏi tổ chức phải năng động, đủ sức thích ứng và phản ứng nhanh chóng với những thay đổi của môi trường. Quản trị chiến lược trở nên có ý nghĩa rất lớn cho sự tồn tại của một tổ chức hiện đại. - Trước hết, quản trị chiến lược giúp thấy rõ các mục tiêu của tổ chức, thông qua đó lôi kéo các nhà quản trị của các cấp vào quá trình quản trị chiến lược của tổ chức, tạo ra sự cộng hưởng của toàn bộ tổ chức nhằm đạt tới các mục tiêu chung của toàn bộ tổ chức hơn là mục tiêu cụ thể của từng bộ phận, phòng ban.
- Thứ hai, quản trị chiến lược quan tâm một cách rộng lớn tới các nhân vật hữu quan. Sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đòi hỏi nó phải thỏa mãn, đáp đứng được yêu cầu của các tổ chức, cá nhân có liên quan như khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, người sở hữu… Các bên hữu quan này có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng lại có nhu cầu và lợi ích khác nhau, do đó, đòi hỏi phải có sự xem xét và quan tâm đầy đủ, hài hòa. - Thứ ba, quản trị chiến lược gắn sự phát triển trong ngắn hạn trong bối cảnh dài hạn. Nghĩa vụ của các nhà quản trị là phải đảm bảo sự phát triển bền vững tổ chức của họ.
Muốn vậy, họ cần phải có những quan điểm dài hạn, có tầm nhìn chiến lược phát triển cho tổ chức. Khi mọi người trong tỏ chức đều hiểu được mục tiêu dài hạn ấy, họ cùng hướng những nỗ lực của mình vào việc đạt mục tiêu nhằm tạo ra ý nghĩa cho những công việc hàng ngày và nhờ vậy tạo ra kết quả cộng hưởng tốt đẹp. Đỗ Đức Tưởng – Cao học 2006 - QTKD 10 Xây dựng giải pháp chiến lược cho thương mại hóa năng lượng tái tạo ở Việt Nam - Thứ tư, quản trị chiến lược quan tâm tới cả hiệu suất và hiệu quả. “Hiệu quả là việc giải quyết đúng công việc và hiệu suất là giải quyết công việc đúng cách” (Peter Drucker).
Mỗi bộ phận luôn có xu hướng nâng cao hiệu suất hoạt động của họ, nhưng chư chắc đã dẫn đến việc đạt mục tiêu chung của tổ chức. Do vậy, đòi hỏi phải có quá trình quản trị chiến lược để hướng các nguồn lực và hoạt động của tổ chức vào đạt tới các mục tiêu với hiệu suất cao nhất. Các yêu cầu của chiến lược phát triển ngành: Khi xây dựng chiến lược phát triển ngành, phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu sau: - Hoạch định chiến lược ngành phải đạt được mục đích tăng thế lực của ngành và giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ trên thị trường. - Hoạch định chiến lược phát trỉển phải đảm bảo sự an toàn của ngành trong quá trình phát triển, tránh được những rủi ro, hiểm họa của môi trường.
- Chiến lược phát triển để hực thi trong tương lai, mà tương lai đó là những gì không chắc chắn. Do đó, phải có những chiến lược dự phòng, phải tính đến những khả năng xấu nhất mà ngành có thể gặp phải. Chiến lược dự phòng sẽ là chiến lược thay thế có thể ứng đối nhanh nhạy với những thay đổi, hạn chế tới mức thấp nhất tác hại của rủi ro. - Phải xác định được mục tiêu, phạm vi phát triển và các điều kiện cơ bản nhất để thực hiện mục tiêu.
- Phải dự đoán được môi trường phát triển trong tương lai. - Phải biết kết hợp giữa độ “hoàn hảo” của chiến lược và thời cơ xuất hiện quá “cầu toàn” để mất thời cơ khi có cơ hội, ngược lại nếu xây dựng chiến lược không cẩn thận sẽ cầm chắc sự thất bại. Điều này đòi hỏi nhà quản trị chiến lược phải nhanh nhạy và quyết đoán. - Khi xây dựng chiến lược phát triển, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, đòi hỏi mỗi chiến lược phát triển phải căn cứ vào “cung”, “cầu” trên thị trường.
Điều đó tùy thuộc vào khả năng của ngành trong nguồn lực nội bộ trong đó từng mặt mạnh phải được khai thác nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh. Đỗ Đức Tưởng – Cao học 2006 - QTKD 11 Xây dựng giải pháp chiến lược cho thương mại hóa năng lượng tái tạo ở Việt Nam 1. Hoạch định chiến lược Quá trình hoạch định chiến lược bao gồm các bước: Bước1: Xác định chức năng, nhiệm vụ và hệ thống mục tiêu dài hạn của ngành Bước2: Phân tích môi trường kinh doanh để xác định thời cơ và đe doạ cũng như điểm mạnh, điểm yếu của ngành. Bước3: Lựa chọn quyết định chiến lược phù hợp Bước 4: Triển khai chiến lược đã lựa chọn với các nội dung cụ thể.
Nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược: - Nhiệm vụ chiến lược: là bản tuyên bố về mục đích lâu dài, phân biệt một doanh nghiệp với những doanh nghiệp tương tự khác. Một bản báo cáo nhiệm vụ xác định các hoạt động của công ty về sản phẩm và thị trường. NÓ xác định vấn đề cơ bản đối diện với các nhà chiến lược “ngành kinh doanh của chúng ta là gì?”. Một bản báo cáo nhiệm vụ rõ ràng mô tả những giá trị và ưu tiên của một ngành.
Phát triển một nhiệm vụ kinh doanh buộc các nhà chiến lược suy nghĩ về bản chất và phạm vi của các hoạt động hiện tại, đồng thời đánh giá sự hấp dẫn tiềm tàng của các thị trường và các hoạt động trong tương lai. - Mục tiêu chiến lược: là để chỉ đích cụ thể mà doanh nghiệp muốn đạt được, được suy ra trực tiếp từ chức năng nhiệm vụ nhưng cụ thể và rõ ràng hơn, được lượng hóa thành những con số: mức tăng trưởng, mức lợi nhuận, doanh số, thị phần… Thường có hai loại mục tiêu: ngắn hạn và dài hạn. - Mục tiêu dài hạn: là toàn bộ kết quả mong muốn cuối cùng mà doanh nghiệp muốn đạt được trong khoảng thời gian dài hơn một năm, với các nội dung cụ thể: mức lợi nhận, năng suất, vị thế cạnh tranh, phát triển việc làm, quan hệ cộng đồng, vị trí công nghệ, trách nhiệm xã hội. - Mục tiêu ngắn hạn: là các kết quả cụ thể doanh nghiệp kỳ vọng đạt được trong một chu kỳ, được lượng hóa thành con số.