Nghiên cứu giải pháp cấp nước cho hệ thống thủy lợi Xuân Thủy, Nam Định

Luận văn nghiên cứu các giải pháp cấp nước cho hệ thống thủy lợi Xuân Thủy, Nam Định, ứng phó với biến đổi khí hậu và đáp ứng phát triển kinh tế.

Trường đại học

Đại học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

190
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giải pháp cấp nước thủy lợi Xuân Thủy bền vững

Hệ thống thủy lợi Xuân Thủy, tọa lạc tại phía Nam tỉnh Nam Định, bao gồm hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy, là một công trình trọng điểm có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực. Được giới hạn bởi sông Hồng, sông Ninh Cơ và Biển Đông, hệ thống này không chỉ phục vụ tưới tiêu cho hàng chục nghìn hecta đất nông nghiệp mà còn cung cấp nước cho công nghiệp, sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản. Với địa hình thấp dần ra biển và chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ nhật triều, việc vận hành hệ thống đòi hỏi sự tính toán khoa học để tối ưu hóa nguồn nước ngọt. Tuy nhiên, trước bối cảnh biến đổi khí hậu đồng bằng sông Hồng, các giải pháp cấp nước cho hệ thống này đang đối mặt với những thách thức chưa từng có. Nghiên cứu “Giải pháp cấp nước có xét đến tác động của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế - xã hội cho hệ thống thủy lợi Xuân Thủy” đã cung cấp một cơ sở khoa học vững chắc để hoạch định chiến lược. Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Nam Định cần tích hợp các kết quả này để đảm bảo an ninh nguồn nước lâu dài. Các giải pháp đề xuất không chỉ tập trung vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng mà còn hướng tới việc đổi mới cơ chế quản lý, vận hành, và thúc đẩy các mô hình nông nghiệp thông minh để thích ứng hiệu quả. Mục tiêu cuối cùng là khai thác, quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước, góp phần ổn định sản xuất và tạo ra sinh kế bền vững cho nông dân.

1.1. Vị trí và vai trò chiến lược của hệ thống thủy lợi Nam Định

Hệ thống thủy lợi Xuân Thủy là một bộ phận quan trọng của hệ thống thủy lợi Nam Định, giữ vai trò then chốt trong việc điều tiết nguồn nước cho một vùng kinh tế ven biển năng động. Nằm ở hạ lưu sông Hồng và sông Ninh Cơ, hệ thống trực tiếp phục vụ sản xuất cho hơn 16.000 ha đất canh tác, 1.843 ha nuôi trồng thủy sản nước ngọt, và cung cấp nước cho các khu công nghiệp, đô thị. Tầm quan trọng của hệ thống còn thể hiện qua vai trò phòng chống thiên tai, ngăn mặn, và giữ ngọt. Đặc biệt, hệ thống này còn có nhiệm vụ bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước của Vườn quốc gia Xuân Thủy, một khu Ramsar có tầm quan trọng quốc tế. Do đó, bất kỳ sự suy giảm nào về khả năng cấp nước của hệ thống đều gây ra những tác động tiêu cực đa chiều, ảnh hưởng đến an ninh lương thực, kinh tế và môi trường của toàn tỉnh.

1.2. Định hướng phát triển kinh tế xã hội vùng hưởng lợi

Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định đến năm 2030, khu vực Xuân Thủy được định hướng phát triển đa ngành, bao gồm nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, du lịch sinh thái và kinh tế biển. Nhu cầu sử dụng nước cho các ngành này dự kiến sẽ tăng mạnh. Cụ thể, diện tích các khu công nghiệp dự kiến mở rộng lên 683 ha vào năm 2020, cùng với đó là quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Ngành nông nghiệp đang có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng mạnh mẽ, ưu tiên các loại cây có giá trị kinh tế cao nhưng cũng đòi hỏi chế độ tưới tiêu khắt khe hơn. Những định hướng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hiện đại hóa hệ thống cấp nước, đảm bảo cung cấp đủ nước về số lượng và chất lượng, đáp ứng sự phát triển năng động của vùng trong bối cảnh tài nguyên nước ngày càng khan hiếm.

II. Thách thức cấp nước cho Xuân Thủy do biến đổi khí hậu

Hệ thống thủy lợi Xuân Thủy đang phải đối mặt với những thách thức kép từ tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và sự xuống cấp của hạ tầng. BĐKH biểu hiện rõ rệt qua hiện tượng nước biển dâng, nhiệt độ tăng và chế độ mưa thay đổi thất thường. Theo kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhiệt độ trung bình tại khu vực có thể tăng 0,7°C vào năm 2030, làm gia tăng nhu cầu nước tưới. Nghiêm trọng hơn, xâm nhập mặn huyện Xuân Thủy ngày càng diễn biến phức tạp. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, độ mặn 10‰ có thể xâm nhập sâu vào nội địa từ 30-50 km, làm giảm đáng kể thời gian lấy nước của các cống đầu mối. Năm 2011, độ mặn tại cống Ngô Đồng đã lên tới 23,5‰, khiến nhiều cống phải đóng hoàn toàn trong thời gian dài. Tình trạng hạn hán và thiếu nước trong vụ đông xuân trở nên thường xuyên hơn, gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, các công trình thủy lợi được xây dựng từ nhiều thập kỷ trước đã xuống cấp, không còn đáp ứng được yêu cầu vận hành trong điều kiện mới. Sự mâu thuẫn giữa nhu cầu dùng nước ngày càng tăng và khả năng cấp nước thực tế bị suy giảm đang là bài toán cấp bách cần có lời giải.

2.1. Tác động của nước biển dâng và xâm nhập mặn sâu

Hiện tượng nước biển dâng là một trong những tác động trực tiếp và nguy hiểm nhất của BĐKH đến vùng ven biển Xuân Thủy. Mực nước biển cao hơn làm tăng cường độ và phạm vi của thủy triều, đẩy nước mặn vào sâu hơn trong các triền sông Hồng và Ninh Cơ. Nghiên cứu đã ghi nhận: “Thời gian mở cống lấy nước giảm, mặc dù một số thời điểm mực nước đảm bảo nhưng nước có độ mặn cao nên các cống không thể mở lấy nước”. Cụ thể, các cống như Cồn Nhất, Ngô Đồng, Tài, Cát Xuyên có thời gian mở cống rất ngắn, chỉ từ 30 phút đến 2 giờ mỗi ngày trong mùa kiệt. Tình trạng này không chỉ gây thiếu nước tưới trực tiếp mà còn làm nhiễm mặn tầng đất canh tác, suy giảm độ phì nhiêu của đất và ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng, đặc biệt là cây lúa.

2.2. Hiện trạng xuống cấp của các công trình thủy lợi cũ

Phần lớn các công trình thủy lợi đầu mối và nội đồng của hệ thống Xuân Thủy được xây dựng từ những năm 1960-1970. Trải qua thời gian dài vận hành trong môi trường nước mặn, nhiều công trình đã xuống cấp nghiêm trọng. Báo cáo khảo sát chỉ ra: “Một số công trình xung yếu như cống Ngô Đồng, Cống Tàu... thân cống ngắn, tường thân cống, cầu giao thông bị nứt gãy, nước rò rỉ qua thân cống”. Hệ thống kênh mương nội đồng, phần lớn là kênh đất, bị bồi lắng, sạt lở, thu hẹp mặt cắt, làm giảm khả năng dẫn nước và tăng tổn thất nước. Năng lực tưới tiêu thực tế của hệ thống đã giảm sút đáng kể so với thiết kế ban đầu, không còn phù hợp với yêu cầu thâm canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiện nay.

2.3. Mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng cấp nước thực tế

Sự phát triển kinh tế - xã hội làm gia tăng nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ, trong khi nông nghiệp vẫn là ngành sử dụng nước chủ yếu. Tuy nhiên, khả năng cấp nước của hệ thống lại đang suy giảm do các yếu tố đã phân tích. Kết quả tính toán cân bằng nước cho thấy tình trạng thiếu hụt nước nghiêm trọng trong vụ Đông Xuân. Theo dự báo đến năm 2030, nhu cầu nước của toàn hệ thống sẽ tăng đáng kể. Mâu thuẫn này nếu không được giải quyết sẽ trở thành rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững, đe dọa an ninh nguồn nước và đời sống của người dân. Đây là lý do cốt lõi đòi hỏi phải có những giải pháp cấp nước toàn diện, đồng bộ và thích ứng với BĐKH.

III. Phương pháp Các giải pháp công trình cấp nước thủy lợi

Để giải quyết bài toán thiếu nước và xâm nhập mặn, các giải pháp công trình đóng vai trò nền tảng, tập trung vào việc nâng cao năng lực lấy nước, trữ nước và điều phối nguồn nước. Đây là nhóm giải pháp mang tính lâu dài, trực tiếp cải thiện hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thủy lợi Xuân Thủy. Nghiên cứu đề xuất một loạt các hạng mục ưu tiên, từ nâng cấp cống đầu mối, kiên cố hóa kênh mương đến xây dựng các công trình mới. Mục tiêu chính là tối đa hóa khả năng lấy nước ngọt trong những thời điểm thuận lợi (triều thấp, độ mặn cho phép) và giảm thiểu tổn thất nước trên đường vận chuyển. Việc nâng cấp hệ thống đê điều và các cống qua đê cũng được chú trọng để đảm bảo an toàn trong mùa mưa lũ và ngăn mặn hiệu quả hơn. Các giải pháp này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn nhưng sẽ mang lại hiệu quả bền vững, là tiền đề để triển khai các giải pháp khác. Theo tính toán, sau khi thực hiện các giải pháp công trình, khả năng cấp nước của các cống đầu mối sẽ tăng lên đáng kể, góp phần cải thiện cán cân nước và đảm bảo an toàn cho sản xuất, đặc biệt là trong những năm xảy ra hạn hán và thiếu nước cực đoan.

3.1. Nâng cấp và xây mới hệ thống cống đầu mối lấy nước

Đây là giải pháp ưu tiên hàng đầu. Nghiên cứu đề xuất nâng cấp, sửa chữa các cống trọng yếu đã xuống cấp như cống Ngô Đồng, Tàu, Cát Đàm và xây mới một số cống để tăng cường khả năng lấy nước từ sông Hồng và sông Ninh Cơ. Việc nâng cấp bao gồm mở rộng khẩu độ cống, thay thế cửa van hiện đại có khả năng đóng mở nhanh và kín, và sửa chữa các vị trí thân cống bị nứt gãy. Mục đích là tận dụng tối đa những giờ nước ngọt hiếm hoi trong mùa kiệt để đưa nước vào hệ thống. Bảng tổng hợp các công trình cần nâng cấp, xây mới trong luận văn đã chỉ rõ quy mô và vị trí cụ thể, làm cơ sở cho việc lập dự án đầu tư, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của công trình thủy lợi.

3.2. Kiên cố hóa kênh mương và hiện đại hóa tưới tiêu tiết kiệm nước

Tình trạng kênh mương đất gây tổn thất nước lớn do rò rỉ và bốc hơi. Giải pháp kiên cố hóa các tuyến kênh cấp 1, cấp 2 là cực kỳ cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nước. Việc này không chỉ giúp dẫn nước nhanh hơn đến mặt ruộng mà còn giảm chi phí nạo vét, duy tu hàng năm. Bên cạnh đó, cần kết hợp áp dụng các công nghệ tưới tiêu tiết kiệm nước như tưới nhỏ giọt, tưới phun cho các vùng trồng cây màu và cây công nghiệp. Việc hiện đại hóa hệ thống kênh mương nội đồng sẽ giúp phân phối nước công bằng, hợp lý, đáp ứng chính xác nhu cầu của từng loại cây trồng và từng giai đoạn sinh trưởng, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

3.3. Xây dựng công trình tích trữ nước ngọt quy mô nhỏ

Đối mặt với tình trạng nguồn nước ngọt từ sông không ổn định, giải pháp tích trữ nước ngọt tại chỗ trở nên quan trọng. Nghiên cứu đề xuất xây dựng các hồ chứa, ao trữ nước phân tán trong các vùng sản xuất. Các công trình này có nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa hoặc khi nguồn sông dồi dào để sử dụng trong mùa khô, khi các cống đầu mối không thể lấy nước do mặn. Mô hình này giúp tăng tính chủ động về nguồn nước cho người dân, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống chung, đặc biệt hiệu quả cho các vùng cuối kênh hoặc những khu vực có địa hình cao, khó lấy nước. Đây là một bước đi quan trọng hướng tới quản lý tài nguyên nước bền vững ở cấp địa phương.

IV. Bí quyết Giải pháp phi công trình tối ưu hóa nguồn nước

Bên cạnh các giải pháp công trình, nhóm giải pháp phi công trình đóng vai trò quyết định đến hiệu quả vận hành và tính bền vững của toàn hệ thống. Các giải pháp này tập trung vào yếu tố con người, cơ chế quản lý và khoa học công nghệ, giúp tối ưu hóa việc sử dụng nguồn nước hiện có mà không cần đầu tư quá lớn vào xây dựng. Cốt lõi của nhóm giải pháp này là đổi mới tư duy, từ quản lý tài nguyên nước theo phương thức truyền thống sang quản lý tổng hợp, thông minh và có sự tham gia của cộng đồng. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào dự báo nguồn nước, điều hành tưới tiêu sẽ giúp hệ thống phản ứng linh hoạt hơn với các diễn biến thời tiết cực đoan. Song song đó, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các giống chịu mặn, cần ít nước hơn là một hướng đi chiến lược. Các chính sách khuyến nông, hỗ trợ người dân áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến sẽ tạo ra sự thay đổi sâu rộng, góp phần đảm bảo sinh kế bền vững cho nông dân trong bối cảnh BĐKH. Những giải pháp này khi được kết hợp đồng bộ với giải pháp công trình sẽ tạo ra một hệ thống cấp nước hoàn chỉnh, hiệu quả và có khả năng chống chịu cao.

4.1. Đổi mới quản lý vận hành hệ thống thủy lợi thông minh

Công tác quản lý, điều hành hệ thống cần được hiện đại hóa. Điều này bao gồm việc xây dựng quy trình vận hành linh hoạt dựa trên dự báo khí tượng, thủy văn và độ mặn theo thời gian thực. Lắp đặt các hệ thống quan trắc tự động (SCADA) để theo dõi mực nước, lưu lượng, độ mặn tại các vị trí trọng yếu sẽ cung cấp dữ liệu chính xác cho việc ra quyết định điều tiết. Cần tăng cường sự phối hợp giữa công ty khai thác công trình thủy lợi và chính quyền địa phương, các hợp tác xã nông nghiệp. Luận văn nhấn mạnh: “Đổi mới công tác quản lý điều hành hệ thống” là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả khai thác, tránh lãng phí và giải quyết xung đột dùng nước giữa các khu vực.

4.2. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với hạn hán và thiếu nước

Trong điều kiện nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, việc tiếp tục canh tác các giống lúa truyền thống yêu cầu nhiều nước sẽ không còn bền vững. Giải pháp là quy hoạch lại vùng sản xuất, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Cần ưu tiên phát triển các giống lúa chịu mặn, các loại cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày có khả năng chịu hạn tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ nông dân về giống, kỹ thuật và đầu ra cho sản phẩm để khuyến khích quá trình chuyển đổi này. Đây là giải pháp thích ứng chủ động, biến thách thức của hạn hán và thiếu nước thành cơ hội để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiệu quả và bền vững hơn.

4.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng về tưới tiêu tiết kiệm nước

Sự thành công của mọi giải pháp đều phụ thuộc vào ý thức của người sử dụng nước. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn cho nông dân về tầm quan trọng của việc tiết kiệm nước và các kỹ thuật tưới tiêu tiết kiệm nước đơn giản, hiệu quả. Xây dựng các mô hình trình diễn mô hình nông nghiệp thông minh để người dân học hỏi và nhân rộng. Đồng thời, cần áp dụng chính sách giá nước lũy tiến, khuyến khích các hộ gia đình, doanh nghiệp sử dụng nước hiệu quả. Việc hình thành ý thức chung trong cộng đồng về bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước là nền tảng vững chắc nhất cho việc đảm bảo an ninh nguồn nước.

V. Kết quả Hiệu quả dự báo từ giải pháp cấp nước Xuân Thủy

Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình được dự báo sẽ mang lại những kết quả tích cực và toàn diện cho hệ thống thủy lợi Xuân Thủy. Phân tích và tính toán trong nghiên cứu cho thấy, sau khi các công trình đầu mối được nâng cấp và hệ thống kênh mương được kiên cố hóa, khả năng lấy nước và hiệu quả dẫn nước sẽ được cải thiện rõ rệt. Cán cân nước của hệ thống, đặc biệt trong các tháng mùa khô, sẽ được cân bằng hơn, giảm thiểu đáng kể diện tích bị hạn hán và thiếu nước. Điều này không chỉ giúp ổn định sản xuất nông nghiệp mà còn đảm bảo đủ nước cho các ngành kinh tế khác đang phát triển, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu socio-economic của khu vực. Quan trọng hơn, các giải pháp này hướng tới việc xây dựng một hệ thống quản lý tài nguyên nước linh hoạt, có khả năng thích ứng cao với những biến động khó lường của khí hậu. Việc đảm bảo an ninh nguồn nước sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và tạo dựng sinh kế bền vững cho nông dân, giúp họ yên tâm sản xuất và cải thiện đời sống.

5.1. Kết quả tính toán cân bằng nước sau khi áp dụng giải pháp

Luận văn đã tiến hành tính toán lại cân bằng nước cho hệ thống vào các thời điểm năm 2020 và 2030 sau khi giả định các giải pháp công trình được thực hiện. Bảng 3.5 “Cân bằng nước trong tương lai sau giải pháp công trình” cho thấy tình trạng thiếu hụt nước được khắc phục cơ bản. Cụ thể, khả năng cấp nước của các cống đầu mối tăng lên, kết hợp với việc giảm tổn thất trên kênh, lượng nước cấp đến các lưu vực đáp ứng được nhu cầu theo các kịch bản phát triển. Kết quả này khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của các giải pháp đề xuất, cung cấp một cơ sở khoa học tin cậy cho các nhà hoạch định chính sách trong việc phân bổ nguồn lực đầu tư.

5.2. Đảm bảo an ninh nguồn nước cho phát triển đa ngành

Một hệ thống thủy lợi hoạt động hiệu quả sẽ là động lực cho sự phát triển của nhiều ngành kinh tế. Việc đảm bảo an ninh nguồn nước không chỉ có ý nghĩa với nông nghiệp mà còn cho cả công nghiệp, du lịch và sinh hoạt đô thị. Nguồn nước ổn định sẽ thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, thúc đẩy sản xuất. Đối với du lịch sinh thái gắn liền với Vườn quốc gia Xuân Thủy, việc duy trì hệ sinh thái đất ngập nước khỏe mạnh là yếu tố sống còn. Do đó, hiệu quả từ các giải pháp cấp nước sẽ lan tỏa, tạo ra tác động cộng hưởng tích cực đến toàn bộ nền kinh tế của hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy.

04/10/2025
Nghiên cứu giải pháp cấp nước có xét đến tác động của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xã hội cho hệ thống thủy lợi xuân thủy tỉnh nam định

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho quá trình đạt được các thỏa thuận vào đầu năm 2009, là một dấu hiệu thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng quốc tế cùng ứng phó với BĐKH. Hội nghị các Bên lần này đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập một chương trình nghị sự ứng phó với BĐKH trong tương lai Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) cũng đã tổ chức 4 lần báo cáo đánh giá tình hình BĐKH toàn cầu. Mỗi lần đánh giá đều có những tiến bộ mới về nguồn số liệu và phương pháp, làm giảm đáng kể những điều chưa chắc chắn tồn tại trước đây, do đó nâng cao rõ rệt mức độ tin cậy của những kết luận về BĐKH trong quá khứ cũng như tương lai. Những kết luận chính trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC được công bố tháng 2 năm 2007.

Kết luận đã đưa ra xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,740C; xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,130C/1 thập kỷ, gấp 2 lần xu thế tăng của 100 năm qua. Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực đã tăng với tỷ lệ 1,50C/100 năm, gấp 2 lần tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực trong 50 năm cuối thế kỷ XX cao hơn bất kỳ nhiệt độ trung bình của 50 năm nào khác trong 500 năm gần đây BĐKH cũng đã gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước. Sự ấm lên toàn cầu sẽ làm cho chu trình thủy văn trở nên biến động mạnh hơn như thay đổi về chế độ mưa và bốc hơi. Mặc dù chưa xác định được cụ thể những ảnh hưởng nào của hiện tượng này tác động đến tài nguyên nước, nhưng tình trạng thiếu nước chắc chắn sẽ tác động trở lại đến chất lượng nước và tần suất các hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt.

Do đó, vấn đề cạnh tranh về nước đang ngày càng trở nên căng thẳng giữa các quốc gia, khu vực, đô thị, nông thôn, hoặc giữa các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau. Điều đó khiến cho nước đang dần trở thành một trong những vấn đề chính trị tại nhiều quốc gia trên thế giới 6 Theo Giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura, trong tình trạng thiếu nước gia tăng như hiện nay, vấn đề quản lý hiệu quả tài nguyên nước trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhu cầu về nước ngày càng tăng, tại nhiều quốc gia trên thế giới tài nguyên nước đã bị khai thác quá mức, vượt quá khả năng của nguồn nước. Hơn nữa, do tác động của BĐKH, tình trạng khan hiếm nước càng thêm trầm trọng hơn.

Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng cũng có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tái tạo của môi trường. Ngày nay, khi sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ biến thì nhu cầu về nước ngày càng gia tăng là điều tất yếu. Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác, sử dụng nước chưa hợp lý kết hợp với các tác động của BĐKH đã gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước. Do đó, cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu, chi tiết để có thể đánh giá đúng và đầy đủ tác động của BĐKH và các hoạt động kinh tế, xã hội đến hệ thống cấp nước nói riêng và đến vấn đề quản lý, khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước trên thế giới nói chung.

Các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam Biến đổi khí hậu đang đe doạ nghiêm trọng đến lợi ích sống còn của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Biểu hiện rõ nét nhất là hiện tượng thời tiết bất thường, trái đất đang nóng lên; hậu quả làm băng tan, mực nước biển dâng cao, mưa lũ, bão lốc, giông tố gia tăng. Con người đã và đang phải đối mặt với những tác động khôn lường của BĐKH như dịch bệnh, đói nghèo, mất nơi ăn chốn ở, thiếu đất canh tác, sự suy giảm đa dạng sinh học… Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 2007), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất trước sự biến đổi khí hậu: nếu mực nước biển tăng 1m thì Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, khoảng 11% dân số mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội, gần 50% đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ngập chìm không còn khả năng canh tác. Vùng đồng bằng sông Hồng và toàn bộ dân cư sống dọc theo 3200Km bờ biển cũng bị ảnh hưởng lớn 7 BĐKH ảnh hưởng đến toàn bộ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Theo kịch bản của Ngân hàng Thế giới (World Bank), BĐKH sẽ làm cho Việt Nam mất 1/2 diện tích canh tác và 22 triệu dân bị mất nhà cửa. Ảnh hưởng đến đất canh tác là ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực, đời sống của người dân và các hệ thống công trình khác. Tại cuộc họp về BĐKH do Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức gần đây, Phó ban chỉ đạo thực hiện công ước khí hậu và nghị định thư Kyoto của Việt Nam cũng cho rằng: “Sinh kế của hàng chục triệu người Việt Nam đang bị đe dọa với những ảnh hưởng của BĐKH. Vấn đề này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng biển, vùng đồng bằng bị đe dọa”.

BĐKH là mối đe doạ thực sự đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt, các vùng ven biển Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều nhất do BĐKH gây ra như hạn hán, bão, lũ lụt , gây thiệt hại rất lớn về người và của. Đây là nguyên nhân làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực kém, tỷ lệ nghèo gia tăng, làm giảm khả năng ứng phó đối với các thiên tai do BĐKH gây ra Việt Nam có lịch sử lâu dài đối phó với thiên tai và có nhiều biện pháp ứng phó khi có thiên tai xảy ra. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, BĐKH khiến nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1C/ thập kỷ, mực nước biển dâng cao,lượng mưa tăng vào mùa mưa gây nên lũ lớn đặc biệt và giảm vào mùa khô gây nên hạn hán, tần suất thiên tai ngày càng cao đã gây nhiều thiệt hại cho nhiều vùng ở Việt Nam. Các vùng ven biển Việt Nam có dân số khỏang 18 triệu người, chiếm gần 1/4 dân số cả nước trong đó diện tích đất sử dụng chỉ chiếm 16% tổng diện tích cả nước.

58% dân cư vùng ven biển chủ yếu sống dựa và nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản, khoảng 480.000 người trực tiếp làm nghề đánh bắt hải sản, 10.000 người chế biến hải sản và 2.000 người cung cấp các dịch vụ liên quan đến nghề cá. BĐKH đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế ở các cùng ven biển Việt Nam. Nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ven biển được coi là ngành có tăng trưởng quan trọng, có giá trị xuất khẩu cao và cũng là ngành chịu nhiều thiệt hại nhất do BĐKH Ngoài việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nuôi trồng thuỷ sản của các vùng ven biển Việt Nam, BĐKH mà cụ thể là mực nước biển dâng cao còn làm cho tình trạng xâm mặn ở các vùng ven biển ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Nó đã trở thành 8 một trong những vấn đề nan giải tại một số địa phương.

Đồng bằng sông Cửu Long với 1,77 triệu ha đất nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích và đây là địa phương có diện tích đất nhiễm mặn lớn nhất. Nếu mực nước biển sẽ tiếp tục dâng cao lên 30cm theo kịch bản BĐKH năm 2050, tình trạng nước mặn kèm theo mất đất và xâm mặn ở đồng bằng sông cửu long và một số khu vực đồng bằng sông hồng, là những khu vực nông nghiệp quan trọng là nơi cung cấp một lượng gạo xuất khẩu lớn nhất cả nước. Nếu tình trạng này xảy ra, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia. Ngoài ra, nếu mực nước biển dâng cao, các trại nuôi trồng thuỷ sản phải di dời và xâm mặn, diện tích rừng ngập mặn giảm sẽ làm mất nơi cư trú của các sinh vật nứơc ngọt.

BĐKH khiến cho thiên tai như lũ lụt, bão xuất hiện với tần suất nhiều hơn, xâm mặn, hạn hán và bão, cả nền nông nghiệp lẫn các hệ sinh thái thiên nhiên chắc chắn còn bị ảnh hưởng do nhiệt độ tăng tối thiểu, số ngày có nhiệt độ dưới 20oC giảm đi (0- 50 ngày vào năm 2070) và số ngày có nhiệt độ trên 25oC tăng lên (0-80 ngày vào năm 2070). Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng xấu đến các thời kỳ sinh trưởng, thời vụ và phân bố cây trồng, làm tăng hoạt động của sâu hại và vi-rút. Theo dự báo, BĐKH sẽ làm sản lượng lúa hè thu giảm từ 3 đến 6% vào năm 2070 so với giai đoạn 1960-1998, sản lượng vụ lúa đông xuân có thể giảm tới 17% vào năm 2070 đối với miền Bắc, giảm 8% vào năm 2070 đối với miền Nam, sản lượng ngô đông xuân có thể giảm 4% ở miền Trung và 9% ở miền Nam BĐKH ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyên nước. Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa trong mùa mưa gây lũ lụt.

Nguồn nước ngầm bị suy giảm do thiếu nguồn bổ sung, giai đoạn sau năm 2020, mực nước ngầm có thể giảm đáng kể do chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thác và suy giảm lượng nước cung cấp cho dòng chảy ngầm trong mùa khô, mực nước tại các vùng không bị ảnh hưởng của thuỷ triều có xu hướng hạ thấp hơn. BĐKH làm cho dòng chảy sông ngòi thay đổi về lượng và sự phân bố theo thời gian, vùng lãnh thổ. Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, có khả năng tác động mạnh lên tài nguyên nước và làm cho những vấn đề vốn rất nghiêm trọng nêu trên đây càng nghiêm trọng hơn, nhiều vấn đề về tài nguyên nước hiện chỉ tiềm ẩn ở dạng các nguy cơ thì có thể trở thành hiện thực nay mai. Theo dự báo, tác động của BĐKH sẽ làm dòng chảy trong mùa khô ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 9 suy giảm khoảng 4,8% vào năm 2020, 14,5% vào năm 2050 và khoảng 33,7% vào năm 2100.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ