CHƯƠNG I B 2 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG TỔNG HỢP NGUỒN NƯỚC B 3 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI B 5 1 1. Tình hình sử dụng nước trên thế giới B 6 3 Nước là thành phần thiết yếu trong sự sống của các sinh vật trên trái đất, và từ lâu, con người đã biết khai thác và sử dụng nước như một yếu tố không thể thiếu của sự sống. Trải qua nhiều thập kỷ, ngày nay chất lượng cuộc sống con người được cải thiện, kèm theo đó là nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng tăng.
Trong khoảng một trăm năm trở lại đây, việc sử dụng nước sạch của nhân loại tăng nhanh gấp 2 lần so với mức tăng dân số. Với tốc độ này trong vòng 20 năm tới nhu cầu về nước sẽ bùng nổ thêm 650%. Với mức tiêu thụ như vậy sẽ là một nguy cơ đè nặng lên các nguồn nước. Cho đến nay, trên 80% lượng nước ngọt được khai thác dùng để tạo ra lương thực và các nghiên cứu cho thấy lượng nước dùng để tạo ra lương thực cho thế giới trong vòng 20 năm tới sẽ tăng thêm 24% nữa.
Theo giáo sư Frank Rijsberman, Tổng giám đốc Viện Quản lý Nước Quốc tế (IWMI) dân số của thế giới sẽ tăng thêm 2 tỷ người nữa vào năm 2025 và 95% số người này sẽ sống ở các đô thị, 80 tỷ đô la được đầu tư mỗi năm vào phát triển nguồn nước, nhưng vào năm 2025 con số này sẽ tăng ít nhất gấp đôi. Trong hội nghị về nước ở thủ đô Stockholm (Thụy điển) gần đây, các nhà khoa học đã đưa ra cảnh báo nguy cơ các cuộc chiến tranh mới về nước đang tăng lên. Những nguy cơ này bắt nguồn từ sự bùng nổ dân số và sự sử dụng nước hoang phí đang trở nên phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở những nước giàu, kèm theo đó là những diễn biến bất lợi về thời tiết gây ra. Giáo sư William Mitsch của trường Đại học Ohio (Mỹ) cho rằng thế giới đã chứng kiến các cuộc chiến tranh về dầu lửa và hiện nay ngoài sự biến đổi khí hậu đang gây khô hạn tại nhiều vùng trên trái đất , chính sự sử dụng nước hoang phí sẽ gây nên các cuộc chiến tranh nhằm giành quyền sử dụng nước.
Khu vực có nguy cơ chiến tranh vì nước nhiều nhất sẽ là khu 5 vực Trung Đông. Báo cáo của Viện Quản lý Nước Quốc tế (IWMI) cũng khẳng định nếu nhân loại tiếp tục sử dụng nước như hiện nay, thế giới sẽ xảy ra nhiều cuộc xung đột nữa. Theo thống kê của một số tổ chức Quốc tế, 50 năm qua, đã 37 lần xảy ra các cuộc chiến tranh, xung đột vì nước, trong đó 27 lần giữa Israel và Syrie do tranh chấp 2 con sông Jourdain và Yarmouk. Tình hình ngày càng trầm trọng hơn và cả khu vực có thể lại nóng lên một lần nữa.
Theo Jean – Fracois, Chủ tịch cơ quan nước Quốc tế, không dưới 1800 cuộc tranh chấp đã nổ ra quanh khu vực các con sông trên hành tinh và Liên hiệp quốc cũng đã ghi nhận 300 khu vực có nguy cơ xảy ra xung đột về nước, như ở Sudan, Ethiopie và Aicập tranh chấp sông Nil hay việc kiểm soát sông Senegal tại tây bán cầu, Mehico và Mỹ cũng đang tranh chấp nước sông Colorado. Các nghiên cứu đã chỉ ra: Hiện nay con người đang lâm vào cuộc khủng hoảng thiếu nước trầm trọng, nhưng nguyên nhân không phải do nguồn nước hạn chế, trái đất có đủ, thậm chí dư thừa cho nhu cầu của hàng chục tỷ người. Nhưng do phân phối không đều, không được sử dụng một cách hợp lý, tiêu thụ quá mức và ngày càng bị ô nhiễm nên nguy cơ thiếu nước sạch không chỉ nghiêm trọng mà còn ở ngay trước mắt. Quản lý tổng hợp nguồn nước trên thế giới B 7 3 Với nhận thức nguy cơ thiếu nước ngọt là trầm trọng và có thể dẫn tới các cuộc tranh chấp, chiến tranh là do việc quản lý sử dụng nước không hợp lý làm cho nguồn nước bị suy thoái do ô nhiễm và cạn kiệt.
Năm 2000 Liên Hợp Quốc đã thiết lập mục tiêu thiên niên kỷ. Một trong những mục tiêu đó là “Phát triển quản lý tổng hợp nguồn nước và sử dụng nước có hiệu quả” giúp các nước đang phát triển thông qua hành động về nước ở tất cả mọi cấp. Năm 2003, Diễn đàn nước quốc tế lần thứ 3 đã được tổ chức tại Nhật Bản với 24.000 người đến từ 182 nước tham dự. Diễn đàn đã tổ chức 351 hội nghị chuyên đề trong đó có 38 chuyên đề được thảo luận sâu.
Điểm nổi bật của diễn đàn này khác với các diễn dàn trước là bàn các hành động cụ thể về nước ở cấp cao, các chuyên đề được bàn rất cụ thể và có số lượng lớn các ý kiến kỹ thuật được tập hợp từ các quốc gia trước khi diễn đàn 6 được tổ chức. Một số chủ đề chính được thảo luận sâu như: Quản lý tổng hợp nguồn nước và lưu vực sông bao gồm quản lý các dòng sông, nước cho con người và sinh thái, quản lý các hệ sinh thái trên các lưu vực, bồi lắng hồ chứa, nước, tự nhiên và môi trường, vấn để bảo vệ rừng đầu nguồn; Hợp tác khu vực trong cảnh báo và giảm nhẹ thiệt hại do lũ gây ra; Khoa học công nghệ và quản lý nước. Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng tại diễn đàn đã đưa ra 29 điều nhằm thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc, trong đó tập trung cho các lĩnh vực: − Chính sách chung về nguồn nước và các hoạt động có liên quan. − Quản lý tổng hợp nguồn nước và chia sẻ lợi ích.
− An toàn nước và vệ sinh môi trường. − Nước cho lương thực và phát triển nông thôn. − Phòng chống ô nhiễm nước và bảo tồn các hệ sinh thái. − Giảm nhẹ thiên tai và quản lý rủi ro.
Nhận thức được nước ngọt là tài nguyên hữu hạn, thiết yếu và cần được bảo vệ để duy trì cuộc sống, phát triển và môi trường (nguyên tắc Dublin -1992). Các quốc gia trên thế giới đang có những nỗ lực để quản lý và sử dụng nguồn nước có hiệu quả, bảo vệ nguồn nước không bị suy thoái và ô nhiễm. Những cố gắng đó tập trung vào các vấn đề chủ yếu như: Thể chế, chính sách, tổ chức, Khoa học - công nghệ, kinh tế - xã hội… cả ở cấp quốc gia và cấp lưu vực. Xu hướng chính hiện nay là tổ chức quản lý nguồn nước theo lưu vực hay phụ lưu đối với những sông lớn và chảy qua địa phận nhiều nước.
Cơ quan chịu trách nhiệm chính về vấn đề này là Tổ chức quản lý lưu vực sông. Nhiều nước đã tổ chức theo mô hình này và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Ở Trung Quốc, từ những năm 30’ của thể kỷ trước đã hình thành các tổ chức theo lưu vực để trị thủy, khai thác và sử dụng nguồn nước. Trải qua quá trình điều chỉnh chức năng nhiệm vụ, hiện nay đã hình thành các Ủy ban quản lý lưu vực sông cho 9 con sông lớn.
Các Ủy ban quản lý lưu vực sông là cơ quan đại diện của Bộ thủy lợi có nhiệm vụ 7 quản lý tổng hợp và phát triển tài nguyên nước trên toàn lưu vực, chịu trách nhiệm lập và chỉ đạo thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng, quản lý công tác khai thác các hệ thống thủy lợi, phòng chống thiên tai như hạn hán, lũ lụt. Ủy ban quản lý lưu vực sông Hoàng Hà là một ví dụ, biên chế tổ chức của Ủy ban này gồm 29.000 người với chức năng quản lý thống nhất nguồn nước và dòng sông, xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi quan trọng; Thực hiện quy hoạch, quản lý, điều phối và bảo vệ nguồn nước. Ủy ban có cơ cấu tổ chức từ cấp lưu vực đến các tiểu lưu vực và các hệ thống khai thác nguồn nước, trong đó có cả các Viện nghiên cứu, các trạm thủy văn, các trạm quản lý chất lượng nước, các Công ty tư vấn và Công ty xây dựng. Ở Pháp thực hiện Luật tài nguyên nước ban hành năm 1964, năm 1966 đã thành lập 6 cơ quan quản lý lưu vực trên cả nước.
Mỗi lưu vực có một Cục lưu vực (Agence de Bassin) với các chức năng chính là: Định hướng và khuyến khích các hộ dùng nước sử dụng hợp lý tài nguyên nước thông qua các công cụ kinh tế; Khởi xướng và cung cấp thông tin cho các dự án phát triển tài nguyên nước, điều hòa các lợi ích địa phương trong khai thác tài nguyên nước. Quản lý tổng hợp lưu vực sông và sử dụng hợp lý tài nguyên nước đang là một xu thế tất yếu của cả thế giới, ngoài một số mô hình như đã trình bày trên, nhiều nước khác cũng đã áp dụng như Mỹ với ban quản lý lưu vực sông Tenessi, Australia với lưu vực sông Murray - Darling; Mexico với lưu vực sông Lerma Chapana. 10 nước ven sông Nile đã chấp nhận việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước như là một chủ đề chính của sáng kiến lưu vực sông để tạo ra một diễn đàn chung cho việc phát triển một tầm nhìn chia sẻ về sử dụng nguồn nước và các lợi ích khác của dòng sông. Ở Zimbabue, các ban quản lý lưu vực sông cũng được thiết lập nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp trong phân phối nước, thiết lập các ưu tiên cho sử dụng nước và thực thi quyền dùng nước… Ngoài những vấn đề về thể chế, chính sách và công tác tổ chức, nhiều dự án cụ thể cũng đã được triển khai ở các nước như: Dự án kiểm soát thất thoát nước trong chiến lược quản lý nước của Malta.
Do phải đối mặt với việc thiếu nước và nguồn nước mặt hạn chế và việc dùng nước thái quá trong nông nghiệp nên việc kiểm soát 8 thất thoát nước đã trở thành yếu tố quan trọng mang tính chiến lược trong quản lý tài nguyên nước và đã được sử dụng để đạt tới sự cân bằng tối ưu về kinh tế giữa cung cấp và nhu cầu sử dụng nước. Với nghiên cứu “Cải cách ngành nước tại Bang Queensland – Australia đã đề xuất một loạt những thể chế và chính sách và đã được triển khai tại bang này.