Chương 1: TỔNG QUAN VỀ E-LEARNING VÀ ỨNG DỤNG E-LEARNING TRONG CÁC CƠ QUAN ĐẢNG 1. Tổng quan về e-Learning 1. Định nghĩa e-Learning Hiện nay, có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-Learning. Có thể định nghĩa e-Learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và thỏa mãn nhu cầu đào tạo.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng các định nghĩa e-Learning đều có các điểm chung sau: • Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kỹ thuật đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán… • Có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người và có thể bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống. Lịch sử phát triển, ứng dụng Các khái niệm và ứng dụng e-Learning được hình thành và phát triển từ rất sớm (cuối Thế kỷ XIX). Quá trình phát triển của e-Learning gắn liền với phát triển của khoa học công nghệ và bị ảnh hưởng bởi những yếu tố về xã hội.
Mỗi khi có sự xuất hiện của những công nghệ tiên tiến, sự thay đổi trong phương pháp đào tạo, học tập thì e-Learning lại bước sang một giai đoạn phát triển mới. Tính tới thời điểm hiện nay, quá trình phát triển của e-Learning có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 thể chia thành ba giai đoạn gắn liền với các khái niệm “đào tạo từ xa” (distance learning/training), “ứng dụng máy tính trong đào tạo” (Computer- based Trainning - CBT) và “ứng dụng internet trong đào tạo” (Web-based Training - WBT). • “Đào tạo từ xa” được hình thành từ Thế kỷ XIX với việc sử dụng các phương pháp chuyển phát bưu điện (Prof. Đến cuối Thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX công nghệ radio đã được đựa vào ứng dụng.
Cho đến nay, các hình thức đào tạo từ xa vẫn tiếp tục phát triển thông qua hệ thông truyền hình, mạng vệ tinh phủ khắp toàn cầu và công nghệ mới nhất hỗ trợ đào tạo từ xa chính là e- Learning [6]. • “Ứng dụng máy tính trong đào tạo” (CBT) được gắn liền với sự ra đời của máy tính. Đến giữa những năm 80 ứng dụng này mới được phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của những thế hệ máy tính hỗ trợ đa phương tiện. Những bài học có nhiều định dạng thông tin, cách thức thể hiện được đưa vào đĩa CD-ROM và chuyển tới học viên.
Hai phương pháp học dựa trên máy tính phổ biến nhất là Computer-Aided Instruction (CAI) và Computer-Based Training (CBT). • “Ứng dụng Internet trong đào tạo” (WBT): với những đặc điểm quan trọng như tính năng độc lập môi trường, khả năng phân phát nội dung rộng rãi, cách thể hiện nội dung phong phú, đa dạng, hấp dẫn, có sự tương tác giảng dạy thời gian thực, Internet đã tạo ra một làn sóng mới trong e-Learning. Hiện tại trên thế giới, công nghiệp e-Learning được ước lượng có giá trị khoảng 38 tỷ EURO. Tại Liên minh Châu Âu (EU) các sảm phẩm e-Learning chỉ chiếm khoảng 20% trên tổng số các sản phẩm của thị trường công nghệ thông tin.
Sự phát triển của Internet và các công nghệ đa phương tiện và cơ sở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 tiềm năng của e-Learning, cộng với nội dung, các công nghệ và dịch vụ được xác định như là ba nhân tố chìa khóa của công nghiệp e-Learning [40]. Ưu điểm, nhược điểm Ưu điểm chính của e-Learning là tính mềm dẻo, linh hoạt (flexibility), sự thuận tiện và khả năng có thể học tập ở bất cứ địa điểm nào được kết nối mạng. Các lớp học điện tử (e-classes) với phương thức không đồng bộ cho phép học viên có thể thực hiện và hoàn thiện các khóa học trong khả năng phù hợp của mình. Về chi phí, e-Learning có thể làm giảm chi phí và tiết kiệm thời gian học tập so với hình thức đào tạo truyền thống (theo [21], chi phí và thời gian có thể giảm từ 40% đến 60%).
Bên cạnh các ưu điểm, e-Learning vẫn còn các nhược điểm đó là cần có sự thay đổi về quan niệm và hình thức giảng dạy, tốn nhiều công sức, thời gian chuyển đổi các dạng tài liệu hiện có sang dạng phù hợp với yêu cầu của e-Learning, hạn chế giao tiếp tương tác (face to face), khó khăn trong việc kiểm tra, đánh giá học viên, môi trường học có thể bị phân tán. Một số đặc điểm của e-Learning 1. Tính sử dụng lại của đối tượng học (Reusable Learning Object) Đối tượng học (learning object) được định nghĩa như là: • “Bất cứ một đối tượng (số hóa hoặc phi số hóa) mà có thể được sử dụng trong công tác đào tạo” [39] • “Bất cứ một tài nguyên số hóa có thể được sử dụng và tái sử dụng để hỗ trợ đào tạo” [18] • “Các ứng dụng web-based tương tác được thiết kế cho mục đích đào tạo” [39] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 • “Các đối tượng số hóa mà có thể được sử dụng, tái sử dụng hoặc được tham chiếu đến trong các công nghệ hỗ trợ đào tạo” [34] Theo định nghĩa của CODEX-IP 1 : “Một đối tượng có thể sử dụng lại (RLO – Reusable Learning Object) là thành phần nhỏ nhất mang thông tin có ý nghĩa độc lập với các thành phần mang thông tin khác và có liên quan tới một mục tiêu học tập cụ thể. Bên trong RLO có thể có nhiều kiểu trình bày khác nhau được sử dụng”.
Đối với mọi quá trình thiết kế giảng dạy (instructional design) kích thước của RLO được chứa trong cơ sở dữ liệu. Ngay trong một khóa học e-Learning, các RLO có kích thước khác nhau cùng tồn tại song song. Tính sử dụng lại của nội dung học tập là việc sử dụng cùng nội dung học tập ở các nơi khác nhau và/hoặc vào các thời điểm khác nhau. Theo IEEE, tính sử dụng lại là “khả năng một thành phần hoạt động và tích hợp được bên ngoài môi trường nó được thiết kế để phục vụ chính ”.
Chuẩn (standards) Các chuẩn e-Learning đóng vai trò rất quan trọng. Không có chuẩn e- Learning sẽ không có khả năng trao đổi với nhau và sử dụng lại các đối tượng học tập. Cũng nhờ có chuẩn toàn bộ thị trường e-Learning sẽ tìm được tiếng nói chung, hợp tác với nhau được cả về mặt kĩ thuật và mặt phương pháp. Các hình thức ứng dụng e-Learning e-Learning không thể thay thế hoàn toàn được cách học truyền thống.
Trong thực tế, e-Learning thường được triển khai kết hợp với phương pháp đào tạo truyền thống, mô hình kết hợp này gọi là Blended Learning Model. 1 Dựa án Research & Development - được tài trợ bởi Uỷ ban châu Âu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Các hệ thống e-Learning thường cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau, đó là sự kết hợp của: • Học trực tuyến và không trực tuyến (Online và offline learning) • Cung cấp nhiều định dạng bài học khác nhau (điện tử, giấy) • Học truyền thống và không truyền thống • Học đồng bộ và không đồng bộ Trong một hệ thống e-Learning có thể cung cấp các kiểu trao đổi thông tin khác nhau giữa học viên và giảng viên: • Trao đổi “Một - Một”: thông qua công cụ trao đổi trực tuyến (Chat), e- mail, chia sẻ màn hình. • Trao đổi “Một - Nhiều” và “Nhiều - Một”: thông qua công cụ trao đổi trực tuyến (Chat), teleconference, web, forum. • Trao đổi “Nhiều - Nhiều”: thông qua các công cụ: teleconference, web, forum.
Ứng dụng e-Learning trong các cơ quan Đảng 1. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Đảng Trong các năm 1998 – 2001, việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách có thệ thống trong toàn bộ hệ thống các cơ quan Đảng được bắt đầu qua việc triển khai thực hiện Dự án A96-2000, theo Thông báo số 75-TB/TW ngày 10-6- 1997 về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Trung ương Đảng và các tỉnh/thành uỷ. Năm 1999, mạng thông tin diện rộng của Đảng (mạng diện rộng của Đảng) đã hình thành, tính đến cuối năm 2001, đã kết nối mạng được với TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 16/17 mạng máy tính cục bộ tại các ban và cơ quan trực thuộc và 61/61 mạng cục bộ của các tỉnh, thành uỷ. Mạng diện rộng của Đảng hoạt động khá ổn định và tiếp tục được mở rộng.
Việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17-10-2000 đánh dấu một mốc quan trọng về sự chỉ đạo của Đảng về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Tính đến 2001, trên 2.000 cán bộ, chuyên viên ở các ban và đơn vị trực thuộc Trung ương đã được đào tạo phổ cập về công nghệ thông tin, trong đó nhiều đồng chí là lãnh đạo cao cấp. Văn phòng các tỉnh uỷ, thành uỷ cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ văn phòng, các ban trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và cán bộ của các quận, huyện, thị uỷ. Trên 400 lượt kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đã được tập trung tập huấn, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức.
Đặc biệt, việc hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng từ xa về công nghệ thông tin (thông qua mạng) cũng đang được thử nghiệm cùng với việc xây dựng Website Đảng Cộng sản Việt Nam [1]. Năm 2002, Ban Bí thư đã ký Quyết định số 47-QĐ/TW, ngày 6-8-2002, ban hành Đề án tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001- 2005 (gọi tắt là Đề án 47). Việc triển khai có hiệu quả Đề án 47 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng hạ tầng công nghệ, đào tạo, nâng cao nhận thức và kỹ năng của cán bộ Đảng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, bước đầu hình thành một số hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu dùng chung rất cơ bản của toàn Đảng, góp phần từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới lề lối làm việc của các cơ quan Đảng. Đề án 47 đã được Ban Bí thư khẳng định triển khai có hiệu quả và đạt được các mục tiêu cơ bản.
Ngày 19 tháng 6 năm 2006, Ban Bí thư đã ký Quyết định số 06-QĐ/TW, ban hành Đề án tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Đề án 06). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Đến nay, tất cả các cơ quan Đảng từ Trung ương đến cấp huyện (một số tỉnh/thành đến cấp xã) đã có mạng máy tính cục bộ và được kết nối với mạng diện rộng của Đảng. Mạng thông tin diện rộng của Đảng sử dụng công nghệ Internet, được kết nối tốc độ cao tới cấp huyện qua dịch vụ MegaWAN của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam.