Luận Văn Thạc Sĩ: Ứng Dụng E-Learning trên Mạng Diện Rộng Cơ Quan Đảng

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu ứng dụng E-learning trên mạng diện rộng của cơ quan Đảng. Chuyên ngành Công nghệ Thông tin mã số 1.01.10.

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

103
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ E-LEARNING VÀ ỨNG DỤNG E-LEARNING TRONG CÁC CƠ QUAN ĐẢNG

1.1. Tổng quan về e-Learning

1.2. Định nghĩa e-Learning

1.3. Lịch sử phát triển, ứng dụng

1.4. Ưu điểm, nhược điểm

1.5. Một số đặc điểm của e-Learning

1.6. Các hình thức ứng dụng e-Learning

1.7. Ứng dụng e-Learning trong các cơ quan Đảng

1.8. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Đảng

1.9. Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống e-Learning

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ HỆ THỐNG ELEARNING

2.1. Kiến trúc hệ thống e-Learning

2.2. Mô hình kiến trúc nền của hệ thống e-Learning

2.3. Các thành phần của hệ thống e-Learning

2.4. Tích hợp LMS và LCMS

2.5. Xây dựng nội dung cho hệ thống e-Learning

2.6. Xây dựng nội dung

2.7. Lựa chọn nội dung

2.8. Chuẩn/đặc tả (standard/specification)

2.9. Khái niệm chuẩn/đặc tả

2.10. Các chuẩn/đặc tả e-Learning

2.11. Tổng quan về SCORM

2.12. Giới thiệu chung về chuẩn SCORM

2.13. Tổ chức tài liệu của SCORM

2.14. Các thành phần của mô hình nội dung SCORM

2.15. Đóng gói nội dung SCORM

2.16. Gói tin tài nguyên (Resource Package)

2.17. Gói tin kết hợp nội dung (Content Aggregation Packet)

2.18. Sắp xếp và trình diễn trong SCORM

2.19. Công cụ phát triển e-Learning

2.20. Công cụ soạn bài điện tử

2.21. Công cụ mô phỏng/giả lập

2.22. Công cụ kiểm tra, đánh giá

2.23. Công cụ trình bày multimedia

2.24. Công cụ hội thảo trực tuyến

2.25. Công cụ LMS/LCMS

2.26. Công cụ tạo website

2.27. Công cụ Chat

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG E-LEARNING THỬ NGHIỆM

3.1. Giải pháp công nghệ

3.2. Các yêu cầu của hệ thống

3.3. Lựa chọn giải pháp

3.4. Cổng điện tử Liferay Portal

3.5. Giới thiệu tổng quan

3.6. Kiến trúc của Liferay

3.7. Đánh giá Liferay Portal [12]

3.8. So sánh Liferay với một số portal khác

3.9. Hệ thống e-Learning Sakai

3.10. Giới thiệu tổng quan

3.11. Lịch sử hình thành và phát triển

3.12. Giải pháp công nghệ của Sakai

3.13. Cấu trúc ứng dụng của Sakai

3.14. Các công cụ và chức năng của hệ thống Sakai

3.15. Lựa chọn giải pháp sự dụng Sakai

3.16. Công cụ tạo bài giảng điện tử ReLoad

3.17. Giới thiệu tổng quan

3.18. Các sản phẩm của Reload

3.19. Giải pháp tích hợp Liferay và Sakai

3.20. Giải pháp tích hợp

3.21. Xây dựng hệ thống e-Learning thử nghiệm

3.22. Xây dựng các chức năng

3.23. Đặc tả chi tiết các chức năng của hệ thống

3.24. Những kết quả thu được

3.25. Định hướng phát triển tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. E Learning Cơ Quan Đảng Tổng Quan Lợi Ích Xu Hướng Mới

Nền kinh tế tri thức thúc đẩy nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo liên tục. E-Learning nổi lên như một giải pháp hiệu quả, không chỉ giới hạn trong giáo dục phổ thông hay đại học, mà còn mở rộng sang các doanh nghiệp, tổ chức, và đặc biệt hữu ích cho các cơ quan có mạng lưới hoạt động rộng lớn. E-Learning, hay Electronic Learning, là hình thức học tập được hỗ trợ bởi máy tính. Khái niệm này đôi khi được thay thế bằng "Công nghệ học tập nâng cao" (Advanced Learning Technology - ALT), bao gồm cả công nghệ và phương pháp đào tạo sử dụng mạng máy tính và các công nghệ đa phương tiện. Với những ưu điểm vượt trội, E-Learning không chỉ được áp dụng và phát triển tại các cơ sở đào tạo mà còn được ứng dụng mạnh mẽ trong các doanh nghiệp, tổ chức, và cơ quan, đặc biệt hiệu quả đối với các đơn vị có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước và trên toàn cầu. Hiện nay, E-Learning đang thu hút sự quan tâm đặc biệt trên toàn thế giới, với nhiều tổ chức và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Tại Việt Nam, việc ứng dụng E-Learning đã được triển khai tại nhiều cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, mang lại nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên việc triển khai E-Learning trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước còn nhiều hạn chế. Thị trường E-Learning hiện nay cung cấp nhiều sản phẩm đa dạng, một số đã khẳng định được chất lượng. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của phần mềm mã nguồn mở đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều sản phẩm E-Learning mã nguồn mở được cộng đồng nhiệt tình ủng hộ. Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng E-learning trên mạng diện rộng của cơ quan Đảng” tập trung vào việc tìm hiểu và nghiên cứu về tình hình ứng dụng E-Learning, đặc biệt là về công nghệ, giải pháp và các chuẩn/đặc tả liên quan. Từ đó, đề tài phân tích, đưa ra một mô hình, giải pháp và xây dựng thử nghiệm một hệ thống E-Learning phục vụ yêu cầu đào tạo công nghệ thông tin trong các cơ quan Đảng. Đây sẽ là cơ sở để tiếp tục ứng dụng E-Learning trong các nội dung đặc thù khác của các cơ quan Đảng.

1.1. Định nghĩa và Lịch sử Phát triển của E Learning Đảng

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về E-Learning. Có thể định nghĩa E-Learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và thỏa mãn nhu cầu đào tạo. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng các định nghĩa E-Learning đều có các điểm chung sau: Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ mạng, kỹ thuật đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán. Có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người và có thể bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống. Các khái niệm và ứng dụng E-Learning được hình thành và phát triển từ rất sớm (cuối Thế kỷ XIX). Quá trình phát triển của E-Learning gắn liền với phát triển của khoa học công nghệ và bị ảnh hưởng bởi những yếu tố về xã hội. Mỗi khi có sự xuất hiện của những công nghệ tiên tiến, sự thay đổi trong phương pháp đào tạo, học tập thì E-Learning lại bước sang một giai đoạn phát triển mới. Tính tới thời điểm hiện nay, quá trình phát triển của E-Learning có thể chia thành ba giai đoạn gắn liền với các khái niệm “đào tạo từ xa” (distance learning/training), “ứng dụng máy tính trong đào tạo” (Computer- based Trainning - CBT) và “ứng dụng internet trong đào tạo” (Web-based Training - WBT).

1.2. Ưu Điểm và Nhược Điểm của Đào Tạo Trực Tuyến Đảng

Ưu điểm chính của E-Learning là tính mềm dẻo, linh hoạt (flexibility), sự thuận tiện và khả năng có thể học tập ở bất cứ địa điểm nào được kết nối mạng. Các lớp học điện tử (e-classes) với phương thức không đồng bộ cho phép học viên có thể thực hiện và hoàn thiện các khóa học trong khả năng phù hợp của mình. Về chi phí, E-Learning có thể làm giảm chi phí và tiết kiệm thời gian học tập so với hình thức đào tạo truyền thống (theo [21], chi phí và thời gian có thể giảm từ 40% đến 60%). Bên cạnh các ưu điểm, E-Learning vẫn còn các nhược điểm đó là cần có sự thay đổi về quan niệm và hình thức giảng dạy, tốn nhiều công sức, thời gian chuyển đổi các dạng tài liệu hiện có sang dạng phù hợp với yêu cầu của E-Learning, hạn chế giao tiếp tương tác (face to face), khó khăn trong việc kiểm tra, đánh giá học viên, môi trường học có thể bị phân tán .

1.3. Các Hình Thức Ứng Dụng E Learning trong Đào Tạo Đảng

E-Learning không thể thay thế hoàn toàn được cách học truyền thống. Trong thực tế, E-Learning thường được triển khai kết hợp với phương pháp đào tạo truyền thống, mô hình kết hợp này gọi là Blended Learning Model. Các hệ thống E-Learning thường cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau, đó là sự kết hợp của: Học trực tuyến và không trực tuyến (Online và offline learning), Cung cấp nhiều định dạng bài học khác nhau (điện tử, giấy), Học truyền thống và không truyền thống, Học đồng bộ và không đồng bộ. Trong một hệ thống E-Learning có thể cung cấp các kiểu trao đổi thông tin khác nhau giữa học viên và giảng viên: Trao đổi “Một - Một”: thông qua công cụ trao đổi trực tuyến (Chat), e-mail, chia sẻ màn hình, Trao đổi “Một - Nhiều” và “Nhiều - Một”: thông qua công cụ trao đổi trực tuyến (Chat), teleconference, web, forum, Trao đổi “Nhiều - Nhiều”: thông qua các công cụ: teleconference, web, forum.

II. Thực Trạng Ứng Dụng E Learning Trong Cơ Quan Đảng Hiện Nay

Trong giai đoạn 1998 – 2001, việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hệ thống trong toàn bộ hệ thống các cơ quan Đảng được khởi đầu thông qua việc triển khai thực hiện Dự án A96-2000, theo Thông báo số 75-TB/TW ngày 10-6-1997 về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Trung ương Đảng và các tỉnh/thành ủy. Năm 1999, mạng thông tin diện rộng của Đảng (mạng diện rộng của Đảng) đã hình thành, tính đến cuối năm 2001, đã kết nối mạng được với 16/17 mạng máy tính cục bộ tại các ban và cơ quan trực thuộc và 61/61 mạng cục bộ của các tỉnh, thành ủy. Mạng diện rộng của Đảng hoạt động khá ổn định và tiếp tục được mở rộng. Việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17-10-2000 đánh dấu một mốc quan trọng về sự chỉ đạo của Đảng về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Tính đến 2001, trên 2.000 cán bộ, chuyên viên ở các ban và đơn vị trực thuộc Trung ương đã được đào tạo phổ cập về công nghệ thông tin, trong đó nhiều đồng chí là lãnh đạo cao cấp. Văn phòng các tỉnh ủy, thành ủy cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ văn phòng, các ban trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và cán bộ của các quận, huyện, thị ủy. Trên 400 lượt kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đã được tập trung tập huấn, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức. Đặc biệt, việc hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng từ xa về công nghệ thông tin (thông qua mạng) cũng đang được thử nghiệm cùng với việc xây dựng Website Đảng Cộng sản Việt Nam [1]. Năm 2002, Ban Bí thư đã ký Quyết định số 47-QĐ/TW, ngày 6-8-2002, ban hành Đề án tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001- 2005 (gọi tắt là Đề án 47). Việc triển khai có hiệu quả Đề án 47 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng hạ tầng công nghệ, đào tạo, nâng cao nhận thức và kỹ năng của cán bộ Đảng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, bước đầu hình thành một số hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu dùng chung rất cơ bản của toàn Đảng, góp phần từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới lề lối làm việc của các cơ quan Đảng.

2.1. Ứng dụng CNTT trong các Cơ Quan Đảng từ 1998 2010

Đề án 47 đã được Ban Bí thư khẳng định triển khai có hiệu quả và đạt được các mục tiêu cơ bản. Ngày 19 tháng 6 năm 2006, Ban Bí thư đã ký Quyết định số 06-QĐ/TW, ban hành Đề án tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Đề án 06). Đến nay, tất cả các cơ quan Đảng từ Trung ương đến cấp huyện (một số tỉnh/thành đến cấp xã) đã có mạng máy tính cục bộ và được kết nối với mạng diện rộng của Đảng. Mạng thông tin diện rộng của Đảng sử dụng công nghệ Internet, được kết nối tốc độ cao tới cấp huyện qua dịch vụ MegaWAN của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Đến cuối tháng 12-2006, đã có trên 32.000 lượt người được đào tạo ; hơn 28,5 nghìn người biết sử dụng mạng và máy tính để làm việc, trong đó tỷ lệ số cán bộ đã biết sử dụng trên tổng số người thuộc diện phải biết sử dụng ở các cấp ủy địa phương (đến cấp huyện) đạt gần 90% ; ở Trung ương đạt xấp xỉ 100%. Trên 20,5 nghìn cán bộ, chuyên viên đã sử dụng mạng máy tính để làm việc; bình quân trong ngày có hơn 19 nghìn lượt người truy cập các mạng cục bộ; lượng thông tin trao đổi trên các mạng cục bộ khoảng 25 GB/ngày [3].

2.2. Sự Cần Thiết Xây Dựng Hệ Thống E Learning cho Đảng

Nhu cầu xây dựng hệ thống hỗ trợ đào tạo trên mạng trong các cơ quan Đảng đã được khẳng định và triển khai ngay từ những năm đầu triển khai các Dự án ứng dụng công nghệ thông tin. Trong quá trình triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, Ban Khoa giáo Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) luôn được giao nhiệm vụ chủ trì và triển khai các Dự án đào tạo công nghệ thông tin cho các cán bộ, từ cán bộ lãnh đạo đến các chuyên viên của các cơ quan Đảng. Một số hình thức đào tạo theo kiểu E-Learning đã được triển khai trong các cơ quan Đảng: Năm 2000, Các trang web phục vụ công tác đào tạo đã được xây dựng trên Website Đảng cộng sản Việt Nam (nay là Báo điện tử Đảng cộng sản Việt nam), Năm 2004, toàn bộ các giáo trình và một số tài liệu tham khảo về công nghệ thông tin của các cơ quan Đảng đã được đóng gói trên đĩa CD-ROM theo công nghệ web (Web-based) và được chuyển đến tất cả các cơ quan Đảng. Bộ giáo trình này đã phát huy được hiệu quả rất cao, Năm 2004 và 2005, Ban Chỉ đạo công nghệ thông tin của cơ quan Đảng đã tổ chức hai hội nghị tổng kết theo công nghệ “Hội thảo từ xa” giữa hai địa điểm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

2.3. Mục Tiêu của Đề Án Tin Học Hóa Cơ Quan Đảng

Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của mạng diện rộng của Đảng, việc xây dựng một hệ thống E-Learning với công nghệ hiện đại trêng mạng diện rộng của Đảng trở thành một nhu cầu cấp thiết. Triển khai hệ thống E-Learning sẽ đem lại nhiều hiệu quả, giảm thiểu chi phí đào tạo, giảm bớt thời gian đào tạo tập trung. Một trong những mục tiêu của Đề án Tin học hóa hoạt động của cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2010 (Đề án 06) là “tạo bước chuyển cơ bản trong lề lối làm việc trên cơ sở áp dụng thống nhất hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp, sử dụng phổ biến các thông tin, tài liệu điện tử, phát triển các hình thức làm việc từ xa: hội nghị từ xa, văn phòng điện tử, đào tạo từ xa, giảm đáng kể giấy tờ, giảm bớt các cuộc họp tập trung và thời gian hội họp, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin cho lãnh đạo Đảng các cấp” [2]. Hệ thống E-Learning trên mạng diện rộng của Đảng không chỉ hỗ công tác đào tạo mà còn tạo ra một môi trường cộng tác ứng dụng công nghệ thông tin. Nội dung đào tạo trước mắt tập trung trong lĩnh vực công nghệ thông tin, trong tương lai sẽ bổ sung các nội dung hỗ trợ công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, hỗ trợ công tác phổ biến, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, phổ biến các nội dung cần thiết khác của các cơ quan Đảng.

III. Thiết Kế Hệ Thống E Learning cho Cơ Quan Đảng Kiến Trúc

Mô hình kiến trúc của hệ thống E-Learning được UK eUniversities Worldwide [36] đưa ra bao gồm 4 tầng: Tầng 1- Cổng (Portal): Bảo đảm điểm truy cập duy nhất, cho phép tất cả người dùng truy cập tới các phần liên quan của hệ thống thông qua một trình duyệt web chuẩn. Tầng 2- Dịch vụ chung (Common services): Bao gồm các dịch vụ cần thiết mọi người dùng. Các dịch vụ này độc lập với các yêu cầu của các gói E-Learning. Tầng này có 3 dịch vụ chung chính: Quản trị người dùng (User Management): Cung cấp giao diện nhất quán cho mọi người dùng. Quản lý định danh, nhận dạng, xác thực, theo dõi hoạt động của người dùng của hệ thống, Cộng tác (Collaboration): cung cấp liên lạc truyền thông giữa các người dùng của hệ thống, bao gồm cả kiểu đồng bộ và không đồng bộ, Quản trị sự kiện (Event Management): cung cấp liên lạc, lịch trình và những chức năng nhắc nhở đối với người dùng. Tầng 3 – Dịch vụ học (Learning services): Đây là tầng đặc trưng của hệ thống. Các dịch vụ trong tầng này cung cấp các chức năng cơ bản nhất để xây dựng và trình diễn các tài nguyên E-Learning. Những dịch vụ học phải có tính mềm dẻo cao trong việc tạo nguồn, đóng gói, trình diễn các nội dung, đánh giá học viên và trong việc thích ứng hồ sơ học viên với hệ thống quản lý hành chính của hệ thống. Tầng này có bốn dịch vụ chính: Hệ quản trị đào tạo/học (LMS): là phần mềm quản lý, theo dõi và tạo các báo cáo dựa trên tương tác giữa học viên và nội dung và giữa học viên và giảng viên, Hệ quản trị nội dung học (LCMS): Cung cấp các dịch vụ mềm dẻo trong việc soạn thảo các bài giảng, xác định vai trò và luồng công việc thích hợp. Đối tượng quản lý chính của LCMS là các đối tượng học, Đánh giá (Assessmment): Cung cấp các công cụ khác nhau để đánh giá kết quả, thành tích của các học viên bằng các hình thức khác nhau, Quản lý (Administration): Cung cấp công cụ quản lý của các công tác đào tạo (quản lý học viên, bài giảng, học phí. Tầng 4 – Cơ sở dữ liệu (Databases): Hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

3.1. Các Tầng Kiến Trúc Hệ Thống E Learning Tiêu Chuẩn

Mô hình kiến trúc của hệ thống E-Learning được UK eUniversities Worldwide [36] đưa ra bao gồm 4 tầng: Tầng 1- Cổng (Portal): Bảo đảm điểm truy cập duy nhất, cho phép tất cả người dùng truy cập tới các phần liên quan của hệ thống thông qua một trình duyệt web chuẩn. Tầng 2- Dịch vụ chung (Common services): Bao gồm các dịch vụ cần thiết mọi người dùng. Các dịch vụ này độc lập với các yêu cầu của các gói E-Learning. Tầng 3 – Dịch vụ học (Learning services): Đây là tầng đặc trưng của hệ thống. Các dịch vụ trong tầng này cung cấp các chức năng cơ bản nhất để xây dựng và trình diễn các tài nguyên E-Learning. Tầng 4 – Cơ sở dữ liệu (Databases): Hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

3.2. Các Thành Phần Cơ Bản của Hệ Thống E Learning Đảng

Hệ thống E-Learning thường được tích hợp với cổng điện tử (Portal) chung của hệ thống. Có khả năng tương tác với các hệ thống khác, do đó các thành phần của hệ thống E-Learning phụ thuộc vào portal của hệ thống mà nó được tích hợp vào. Về cơ bản một hệ thống E-Learning gồm các thành phần chính sau: LMS: Hệ thống quản lý đào tạo/học, LCMS: Hệ thống quản lý nội dung đào tạo, Công cụ tạo nội dung đào tạo (editor/authoring tools), Hệ quản trị cơ sở dữ liệu, Các chuẩn/đặc tả E-Learning.

3.3. Vai Trò của LMS và LCMS trong E Learning Cơ Quan Đảng

LMS là một thành phần quan trọng của một hệ thống E-Learning. LMS thường gồm nhiều modun khác nhau thực hiện các công việc quản lý, theo dõi và tạo các báo cáo dựa trên tương tác giữa học viên và nội dung; giữa học viên và giảng viên; đồng thời hỗ trợ khả năng truy cập từ xa. Một hệ LMS tốt là hệ có khả năng lập kế hoạch, phân phát và quản lý các chương trình học dưới bất kỳ khuôn dạng nào. Hệ LMS này có thể tích hợp dễ dàng với các hệ LCMS khác qua các đặc tả, các chuẩn kỹ thuật và cả chức năng quản lý nội dung học. LCMS là sự phát triển cao hơn của LMS. LCMS là hệ thống dùng để tạo, lưu trữ, tổng hợp, và phân phối nội dung E-Learning dưới dạng các đối tượng học. Đặc điểm chính để phân biệt với LMS là LCMS tạo và quản lý các đối tượng học. LCMS cung cấp chức năng năng quản lý và sử dụng lại các đối tượng học. Một LCMS tốt thường cho phép tạo và quản lý các nội dung đào tạo theo cả hai phướng pháp trực tuyến (online) và ngoại tuyến (offline).

IV. SCORM và Xây Dựng Nội Dung E Learning Chuẩn Hóa Cho Đảng

SCORM là một chuẩn E-learning được đưa ra bởi Advanced Distributed Learning (ADL). SCORM là viết tắt của “Sharable Content Object Reference Model” (Mô hình tham chiếu đối tượng nội dung dùng chung) là một mô hình tham chiếu đến một tập chuẩn, đặc tả và chỉ dẫn kỹ thuật được thiết kế để đáp ứng những yêu cầu mức cao của nội dung và hệ thống E-Learning [7] (Các nghiên cứu, phân tích sau đây dựa trên chuẩn SCORM 2004). SCORM có ba tiểu chuẩn chính của một mô hình tham chiếu: khả năng chỉ dẫn, khả năng kế thừa và khả năng liên kết. SCORM định nghĩa những cơ sở kỹ thuật cho một môi trường học tập dựa trên công nghệ Web, là mô hình tham chiếu mô tả một mô hình tập hợp nội dung (Content Aggregation Model) và môi trường thực thi (Run-time Enviroment) cho các đối tượng học để cung cấp tri thức dựa trên những mục tiêu, sở thích, sự trình diễn và những nhân tố khác (như những kỹ thuật chỉ dẫn) [7].

4.1. Tổng Quan về Chuẩn SCORM trong E Learning Đảng

SCORM là một chuẩn E-learning được đưa ra bởi Advanced Distributed Learning (ADL). SCORM là viết tắt của “Sharable Content Object Reference Model” (Mô hình tham chiếu đối tượng nội dung dùng chung) là một mô hình tham chiếu đến một tập chuẩn, đặc tả và chỉ dẫn kỹ thuật được thiết kế để đáp ứng những yêu cầu mức cao của nội dung và hệ thống E-Learning [7] SCORM có ba tiểu chuẩn chính của một mô hình tham chiếu: khả năng chỉ dẫn, khả năng kế thừa và khả năng liên kết.

4.2. Các Thành Phần Mô Hình Nội Dung SCORM Quan Trọng

Mô hình nội dung SCORM mô tả các thành phần của SCORM được dùng để xây dựng các nội dung học, đồng thời định nghĩa cách thức chia sẻ các tài nguyên học. Các thành phần chính của SCORM bao gồm: Tài nguyên (Assets), Các đối tượng nội dung chia sẻ (Sharable Content Objects - SCOs), các hoạt động (Activities), tổ chức nội dung (Content Organization) và tập hợp nội dung (Content Aggregations).

4.3. Đóng Gói Nội Dung SCORM cho Cơ Quan Đảng Hướng Dẫn

Khi nội dung học được thiết kế và xây dựng, nội dung này cần luôn sẵn sàng cho học viên, công cụ quản trị, kho chứa hoặc các hệ thống quản lý học (LMSs). Đặc tả đóng gói nội dung IMS (IMS Content Packaging Specification) được thiết kế để cung cấp một cách thức chuẩn để cấu trúc và chuyển đổi nội dung học. Đóng gói nội dung SCORM là một tập những yêu cầu và hướng dẫn cụ thể hoặc một hồ sơ ứng dụng dạng đặc tả đóng gói nội dung IMS. Những gói tin nội dung SCORM đều gắn với đặc tả đóng gói nội dung IMS và cung cấp những yêu cầu và hướng dẫn thực hiện cho Asset, SCO và CO.

V. Công Cụ Phát Triển E Learning và Lựa Chọn Giải Pháp cho Đảng

Công cụ soạn bài điện tử là các công cụ giúp cho việc tạo nội dung học tập gồm text, ảnh, âm thanh, các hoạt hình, video và các loại tương tác multimedia một cách dễ dàng, đồng thời xuất ra các định dạng như HTML, CD-ROM, hoặc các gói tuân theo chuẩn của E-Learning. Việc sử dụng các công cụ tạo bài điện tử thường yêu cầu ít kiến thức công nghệ thông tin hơn việc sử dụng các công cụ lập trình. Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng trong các công cụ soạn bài cũng được chia ra thành các cấp độ khác nhau.

5.1. Các Loại Công Cụ Soạn Bài Điện Tử Phổ Biến Hiện Nay

Công cụ soạn bài điện tử là các công cụ giúp cho việc tạo nội dung học tập gồm text, ảnh, âm thanh, các hoạt hình, video và các loại tương tác multimedia một cách dễ dàng, đồng thời xuất ra các định dạng như HTML, CD-ROM, hoặc các gói tuân theo chuẩn của E-Learning.

5.2. Công Cụ Mô Phỏng và Kiểm Tra Đánh Giá trong E Learning Đảng

Mô phỏng là quá trình “bắt chước” một hiện tượng có thực với một tập các công thức toán học. Các chương trình máy tính có thể mô phỏng các điều kiện thời tiết, các phản ứng hoá học, thậm chí các quá trình sinh học. Với các công cụ mô phỏng có thể ghi và điều chỉnh các sự kiện diễn ra trên màn hình máy tính. Các công cụ kiểm tra, đánh giá là các ứng dụng tạo và phân phối các bài kiểm tra, các câu hỏi, các tính năng như đánh giá và báo cáo thường được tích hợp vào cùng. Đa số các ứng dụng hiện nay đều hỗ trợ xuất ra các định dạng tương thích với chuẩn SCORM, AICC của E-Learning, do đó các bài kiểm tra hoàn toàn có thể đưa vào các LMS/LCMS khác nhau.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ E-LEARNING VÀ ỨNG DỤNG E-LEARNING TRONG CÁC CƠ QUAN ĐẢNG 1. Tổng quan về e-Learning 1. Định nghĩa e-Learning Hiện nay, có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-Learning. Có thể định nghĩa e-Learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và thỏa mãn nhu cầu đào tạo.

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng các định nghĩa e-Learning đều có các điểm chung sau: • Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kỹ thuật đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán… • Có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người và có thể bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống. Lịch sử phát triển, ứng dụng Các khái niệm và ứng dụng e-Learning được hình thành và phát triển từ rất sớm (cuối Thế kỷ XIX). Quá trình phát triển của e-Learning gắn liền với phát triển của khoa học công nghệ và bị ảnh hưởng bởi những yếu tố về xã hội.

Mỗi khi có sự xuất hiện của những công nghệ tiên tiến, sự thay đổi trong phương pháp đào tạo, học tập thì e-Learning lại bước sang một giai đoạn phát triển mới. Tính tới thời điểm hiện nay, quá trình phát triển của e-Learning có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 thể chia thành ba giai đoạn gắn liền với các khái niệm “đào tạo từ xa” (distance learning/training), “ứng dụng máy tính trong đào tạo” (Computer- based Trainning - CBT) và “ứng dụng internet trong đào tạo” (Web-based Training - WBT). • “Đào tạo từ xa” được hình thành từ Thế kỷ XIX với việc sử dụng các phương pháp chuyển phát bưu điện (Prof. Đến cuối Thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX công nghệ radio đã được đựa vào ứng dụng.

Cho đến nay, các hình thức đào tạo từ xa vẫn tiếp tục phát triển thông qua hệ thông truyền hình, mạng vệ tinh phủ khắp toàn cầu và công nghệ mới nhất hỗ trợ đào tạo từ xa chính là e- Learning [6]. • “Ứng dụng máy tính trong đào tạo” (CBT) được gắn liền với sự ra đời của máy tính. Đến giữa những năm 80 ứng dụng này mới được phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của những thế hệ máy tính hỗ trợ đa phương tiện. Những bài học có nhiều định dạng thông tin, cách thức thể hiện được đưa vào đĩa CD-ROM và chuyển tới học viên.

Hai phương pháp học dựa trên máy tính phổ biến nhất là Computer-Aided Instruction (CAI) và Computer-Based Training (CBT). • “Ứng dụng Internet trong đào tạo” (WBT): với những đặc điểm quan trọng như tính năng độc lập môi trường, khả năng phân phát nội dung rộng rãi, cách thể hiện nội dung phong phú, đa dạng, hấp dẫn, có sự tương tác giảng dạy thời gian thực, Internet đã tạo ra một làn sóng mới trong e-Learning. Hiện tại trên thế giới, công nghiệp e-Learning được ước lượng có giá trị khoảng 38 tỷ EURO. Tại Liên minh Châu Âu (EU) các sảm phẩm e-Learning chỉ chiếm khoảng 20% trên tổng số các sản phẩm của thị trường công nghệ thông tin.

Sự phát triển của Internet và các công nghệ đa phương tiện và cơ sở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 tiềm năng của e-Learning, cộng với nội dung, các công nghệ và dịch vụ được xác định như là ba nhân tố chìa khóa của công nghiệp e-Learning [40]. Ưu điểm, nhược điểm Ưu điểm chính của e-Learning là tính mềm dẻo, linh hoạt (flexibility), sự thuận tiện và khả năng có thể học tập ở bất cứ địa điểm nào được kết nối mạng. Các lớp học điện tử (e-classes) với phương thức không đồng bộ cho phép học viên có thể thực hiện và hoàn thiện các khóa học trong khả năng phù hợp của mình. Về chi phí, e-Learning có thể làm giảm chi phí và tiết kiệm thời gian học tập so với hình thức đào tạo truyền thống (theo [21], chi phí và thời gian có thể giảm từ 40% đến 60%).

Bên cạnh các ưu điểm, e-Learning vẫn còn các nhược điểm đó là cần có sự thay đổi về quan niệm và hình thức giảng dạy, tốn nhiều công sức, thời gian chuyển đổi các dạng tài liệu hiện có sang dạng phù hợp với yêu cầu của e-Learning, hạn chế giao tiếp tương tác (face to face), khó khăn trong việc kiểm tra, đánh giá học viên, môi trường học có thể bị phân tán. Một số đặc điểm của e-Learning 1. Tính sử dụng lại của đối tượng học (Reusable Learning Object) Đối tượng học (learning object) được định nghĩa như là: • “Bất cứ một đối tượng (số hóa hoặc phi số hóa) mà có thể được sử dụng trong công tác đào tạo” [39] • “Bất cứ một tài nguyên số hóa có thể được sử dụng và tái sử dụng để hỗ trợ đào tạo” [18] • “Các ứng dụng web-based tương tác được thiết kế cho mục đích đào tạo” [39] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 • “Các đối tượng số hóa mà có thể được sử dụng, tái sử dụng hoặc được tham chiếu đến trong các công nghệ hỗ trợ đào tạo” [34] Theo định nghĩa của CODEX-IP 1 : “Một đối tượng có thể sử dụng lại (RLO – Reusable Learning Object) là thành phần nhỏ nhất mang thông tin có ý nghĩa độc lập với các thành phần mang thông tin khác và có liên quan tới một mục tiêu học tập cụ thể. Bên trong RLO có thể có nhiều kiểu trình bày khác nhau được sử dụng”.

Đối với mọi quá trình thiết kế giảng dạy (instructional design) kích thước của RLO được chứa trong cơ sở dữ liệu. Ngay trong một khóa học e-Learning, các RLO có kích thước khác nhau cùng tồn tại song song. Tính sử dụng lại của nội dung học tập là việc sử dụng cùng nội dung học tập ở các nơi khác nhau và/hoặc vào các thời điểm khác nhau. Theo IEEE, tính sử dụng lại là “khả năng một thành phần hoạt động và tích hợp được bên ngoài môi trường nó được thiết kế để phục vụ chính ”.

Chuẩn (standards) Các chuẩn e-Learning đóng vai trò rất quan trọng. Không có chuẩn e- Learning sẽ không có khả năng trao đổi với nhau và sử dụng lại các đối tượng học tập. Cũng nhờ có chuẩn toàn bộ thị trường e-Learning sẽ tìm được tiếng nói chung, hợp tác với nhau được cả về mặt kĩ thuật và mặt phương pháp. Các hình thức ứng dụng e-Learning e-Learning không thể thay thế hoàn toàn được cách học truyền thống.

Trong thực tế, e-Learning thường được triển khai kết hợp với phương pháp đào tạo truyền thống, mô hình kết hợp này gọi là Blended Learning Model. 1 Dựa án Research & Development - được tài trợ bởi Uỷ ban châu Âu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Các hệ thống e-Learning thường cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau, đó là sự kết hợp của: • Học trực tuyến và không trực tuyến (Online và offline learning) • Cung cấp nhiều định dạng bài học khác nhau (điện tử, giấy) • Học truyền thống và không truyền thống • Học đồng bộ và không đồng bộ Trong một hệ thống e-Learning có thể cung cấp các kiểu trao đổi thông tin khác nhau giữa học viên và giảng viên: • Trao đổi “Một - Một”: thông qua công cụ trao đổi trực tuyến (Chat), e- mail, chia sẻ màn hình. • Trao đổi “Một - Nhiều” và “Nhiều - Một”: thông qua công cụ trao đổi trực tuyến (Chat), teleconference, web, forum. • Trao đổi “Nhiều - Nhiều”: thông qua các công cụ: teleconference, web, forum.

Ứng dụng e-Learning trong các cơ quan Đảng 1. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Đảng Trong các năm 1998 – 2001, việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách có thệ thống trong toàn bộ hệ thống các cơ quan Đảng được bắt đầu qua việc triển khai thực hiện Dự án A96-2000, theo Thông báo số 75-TB/TW ngày 10-6- 1997 về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Trung ương Đảng và các tỉnh/thành uỷ. Năm 1999, mạng thông tin diện rộng của Đảng (mạng diện rộng của Đảng) đã hình thành, tính đến cuối năm 2001, đã kết nối mạng được với TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 16/17 mạng máy tính cục bộ tại các ban và cơ quan trực thuộc và 61/61 mạng cục bộ của các tỉnh, thành uỷ. Mạng diện rộng của Đảng hoạt động khá ổn định và tiếp tục được mở rộng.

Việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17-10-2000 đánh dấu một mốc quan trọng về sự chỉ đạo của Đảng về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Tính đến 2001, trên 2.000 cán bộ, chuyên viên ở các ban và đơn vị trực thuộc Trung ương đã được đào tạo phổ cập về công nghệ thông tin, trong đó nhiều đồng chí là lãnh đạo cao cấp. Văn phòng các tỉnh uỷ, thành uỷ cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ văn phòng, các ban trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ và cán bộ của các quận, huyện, thị uỷ. Trên 400 lượt kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đã được tập trung tập huấn, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức.

Đặc biệt, việc hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng từ xa về công nghệ thông tin (thông qua mạng) cũng đang được thử nghiệm cùng với việc xây dựng Website Đảng Cộng sản Việt Nam [1]. Năm 2002, Ban Bí thư đã ký Quyết định số 47-QĐ/TW, ngày 6-8-2002, ban hành Đề án tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001- 2005 (gọi tắt là Đề án 47). Việc triển khai có hiệu quả Đề án 47 đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng hạ tầng công nghệ, đào tạo, nâng cao nhận thức và kỹ năng của cán bộ Đảng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, bước đầu hình thành một số hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu dùng chung rất cơ bản của toàn Đảng, góp phần từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới lề lối làm việc của các cơ quan Đảng. Đề án 47 đã được Ban Bí thư khẳng định triển khai có hiệu quả và đạt được các mục tiêu cơ bản.

Ngày 19 tháng 6 năm 2006, Ban Bí thư đã ký Quyết định số 06-QĐ/TW, ban hành Đề án tin học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Đề án 06). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Đến nay, tất cả các cơ quan Đảng từ Trung ương đến cấp huyện (một số tỉnh/thành đến cấp xã) đã có mạng máy tính cục bộ và được kết nối với mạng diện rộng của Đảng. Mạng thông tin diện rộng của Đảng sử dụng công nghệ Internet, được kết nối tốc độ cao tới cấp huyện qua dịch vụ MegaWAN của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ