Chương 1 – CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ DỰ BÁO KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH 1.1 Kiệt quệ tài chính và những ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính đến các chủ thể trong nền kinh tế 1.1 Kiệt quệ tài chính Kiệt quệ tài chính là một khái niệm với nghĩa khá rộng, nó thể hiện tình trạng các doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn về tài chính.Thuật ngữ phổ biến nhất sử dụng để mô tả những tình trạng này là “thất bại” (failure), “mất thanh khoản” (insolvency), “vỡ nợ” (default), và “phá sản” (bankruptcy). Thất bại (failure): Altman và Hotckiss (2005) định nghĩa “thất bại”theo chuẩnkinh tế học, nghĩa là “tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư, cùng với các tỷ số khác để đánh giá rủi ro, là thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không đủ bù đắp chi phí của công ty”. Tuy nhiên, định nghĩa như trên vẫn chưa đủ, bởi vì mặc dù có doanh thu không đủ bù đắp chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực trên vốn đâu tư thấp hơn so với tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường thì một công ty trong tình huống này cũng có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh nếu các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp. Vì vậy, rất khó để phân loại một công ty đối mặt các tình huống ở trên như một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính.
Một quan điểm khác, dựa theo chuẩn tài chính, “thất bại” là việc dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để thỏa mãn nghĩa vụ tài chính hiện tại. Các nghĩa vụ tài chính này bao gồm việc không thể giải quyết nợ đối với các nhà cung cấp tín dụng và người lao động, hoặc gánh chịu tổn thất từ quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng, hoặc không thể hoàn trả nợ gốc và lãi vay (Wruck, 1990). Từ các quan điểm trên, “thất bại” của công ty được chia làm 2 loại, đó là: “thất bại kinh tế” (economic failure) và “thất bại tài chính” (financial failure). Andrade và Kaplan (1998) nhấn mạnh cần thiết phải phân biệt giữa “thất bại tài chính” và “thất bại kinh tế”.
Hai ông định nghĩa rằng một công ty vi phạm việc trả nợ là “thất 5 bại tài chính”, còn một công ty đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh là “thất bại kinh tế”. Ở một quan điểm phổ biến khác, “thất bại tài chính” được định nghĩa là việc công ty bất lực trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ.Tuy nhiên, một công ty không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cũng có thể xảy ra ngay cả khi công ty có giá trị tài sản ròng dương (Gaughan, 2011). Như vậy, có thể hiểu rằng bên cạnh tình trạng “bất lực” của công ty trong việc trả nợ, thì tình trạng “khó khăn” của công ty trong việc thanh toán các khoản nợ cũng được xem là “thất bại tài chính”. Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng “thất bại tài chính” không đồng nghĩa với “phá sản” hay “giải thể”.
Bởi vì, tất cả các công ty khi gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh thì đều sẽ trải qua “thất bại tài chính” và “thất bại kinh tế”, nhưng chỉ một số công ty trong số đó sẽ đi đến “phá sản” hay “giải thể” chứ không phải tất cả. Mất thanh khoản (insolvency): là một dạng khác đểmô tảkết quảhoạt động kinhdoanh thất bại và kiệt quệ tài chính. Một công ty “mất thanh khoản” có thể đượcđịnh nghĩa là không đủ khả năng để hoàn thành các nghĩa vụ tài chính bao gồm cả các khoản nợ đối với người lao động, nhà cung cấp, chủ nợ (Shrader và Hickman, 1993). Mất thanh khoản thể hiện kết quả hoạt động kém liên quan đến vấn đề về thanh khoản và giá trị ròng của doanh nghiệp âm (Zopounidis & Dimitras, 1998).
Các đối tượng thường gặp nhất trở nên mất thanh khoản là do vay nợ quá nhiều. Định nghĩa trên giống với định nghĩa “thất bại tài chính” của Whitaker (1999) và Wruck (1990). Thực tế, Wruck (1990) nhấn mạnh rằng, mặc dù “mất thanh khoản” là khác biệt so với “thất bại tài chính”, nhưng 2 khái niệm này vẫn được sử dụng thay thế lẫn nhau. Wruck (1990), Ross và cộng sự (2003) chia khái niệm “mất thanh khoản” thành 2 dạng: do giá trị và do dòng tiền.
6 Quan điểm “mất thanh khoản do giá trị” cho rằng việc mất thanh khoản xảy ra khi giá trị thị trường các tài sản của công ty là thấp hơn so với giá trị các khoản nợ, theo đó, khái niệm này còn được hiểu là giá trị kinh tế ròng âm. Ngoài ra, kiệt quệ tài chính cũng có thể bắt nguồn từ “mất thanh khoản do dòng tiền”; nói cách khác, công ty này không thể tạo ra đủ dòng tiền để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại. Trường hợp này còn được gọi là “mất thanh khoản kỹ thuật” (technical insolvency). Vỡ nợ (default): là một khái niệm tài chính khácliên quan đến kiệt quệtài chính.
“Vỡ nợ” được thể hiện như là tình trạng khi một công ty không thể trả được nợ gốc hay lãi đối với chủ nợ khi chúng đến hạn, và do đó, vi phạm điều kiện của hợp đồng tín dụng, dẫn đến các hành động pháp lý (Altman và Hotchkiss, 2005). Ross, Westerfield và Jaffe (2002) nói rằng '' khủng hoảng tài chính là một tình huống mà dòng tiền hoạt động của một công ty không đủ để đáp ứng nghĩa vụ hiện tại (như tín dụng thương mại hoặc chi phí lãi vay) và công ty buộc phải nhận những hành động trừng phạt'' Gilson và cộng sự (1990) và Altman và Hotchkiss (2005) tách khái niệm “vỡ nợ” ra làm 2 phạm trù riêng: “vỡ nợ thanh toán” do không thể trả nợ gốc và lãi đến hạn, và “vỡ nợ kỹ thuật” do vi phạm các điều khoản hợp đồng tín dụng của công ty. Ngoài ra, có sự nhầm lẫn phổ biến giữa “mất thanh khoản” và “vỡ nợ”. Cần có sự phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm này.
Theo đó, để phân biệt giữa “vỡ nợ” (default) và “mất thanh khoản” (insolvency), cần tham chiếu đến thời điểm đáo hạn (date of maturity) của nợ. Một công ty có thể ở trong tình trạng “mất thanh khoản” trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ đến thời điểm nợ đáo hạn, công ty mới được xem là “vỡ nợ”, và khi đối mặt với với sự kiện này, công ty sẽ cố gắng tái thương thảo hợp đồng tín dụng và tái cấu trúc nợ (đảo nợ) trước khi tình trạng “phá sản” (bankruptcy) bắt đầu. Phá sản (bankruptcy): cũng là khái niệm tài chính liên quan đến kiệt quệ tài chính.
7 Altman (1993) đưa ra một mô tả và định nghĩa hoàn chỉnh của kiệt quệ tài chính và chỉ ra rằng phá sản là định nghĩa pháp lý gần nhất của khủng hoảng tài chính. “Phá sản” là việc công ty đệ trình đơn xin phá sản chính thức đến tòa án và được tòa án phê duyệt cho phép phá sản. Diễn biến sau đó sẽ theo 2 hướng: công ty bán tài sản để trả nợ (thanh lý tài sản) hoặc nổ lực thực hiện một chương trình tái cấu trúc (Altman và Hotchkiss, 2005). Zmijewski (1984) định nghĩa kiệt quệ tài chính là hành động nộp đơn nộp đơn xin phá sản.
Tuy nhiên, nhiều công ty đã rơi vào kiệt quệ tài chính chưa bao giờ nộp đơn phá sản, do quá trình sáp nhập hoặc tư nhân hóa, trong khi đó những công ty có tình trạng tốt thường nộp đơn phá sản để tránh thuế và các vụ kiện tốn kém (Theodossiou, Kahya, Saidi & Philippatos, 1996). Trong các nghiên cứu thực tiễn, “phá sản” (bankruptcy), “thất bại tài chính” (financial failure), “vỡ nợ” (default) và “kiệt quệ tài chính” (financial distress) được sử dụng thay thế nhau. Việc sử dụng “thất bại tài chính” hay “kiệt quệ tài chính” để cung cấp tính linh động trong phương diện nghiên cứu. “Kiệt quệ tài chính” là một định nghĩa linh động hơn so với “phá sản” và giúp nghiên cứu gia tăng kích cỡ mẫu; ngược lại, “phá sản” là một hình thái đặc biệt của “kiệt quệ tài chính”, “phá sản” tập trung vào các nghiên cứu giảm kích cỡ mẫu.
Việc sử dụng “kiệt quệ tài chính” cung cấp mạnh hơn không chỉ trong thực tiễn mà còn trong lý thuyết, bởi vì không phải tất cả các công ty kiệt quệ tài chính đều đi đến “phá sản”.“Phá sản” chỉ là sự lựa chọn cuối cùng đối với các công ty khi mà chúng không thể giải quyết các vấn đề tài chính (Aktas, 1993). Ngoài ra, Karels và Prakash (1987) trong các nghiên cứu thực nghiệm của hai ông về ước lượng thất bại tài chính, đã liệt kê các định nghĩa của thất bại tài chính, các định nghĩa đó là giá trị ròng (net value) âm, mất thanh khoản (insolvency), vỡ nợ (default) đối với gốc hoặc lãi, phát hành các tờ séc xấu, hoãn chi trả cổ tức, việc quản lý chuyển giao cho các chủ nợ, v.v… Tương tự, Lin và McClean (2000) liệt kê các định nghĩa về thất bại tài chính và kiệt quệ tài chính phổ biến như: doanh nghiệp phải tái cấu trúc, không đủ khả năng trả lãi, báo cáo kiểm toán bị đánh giá 8 xấu, bán tài sản để trả nợ rồi giải thể, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, thua lỗ năm hiện tại, thua lỗ liên tiếp 2 năm, thua lỗ liên tiếp 3 năm, v.v… Các định nghĩa khác nhau của kiệt quệ tài chính dẫn đến việc lựa chọn mẫu khác nhau để nghiên cứu trong lĩnh vực này. Nhãn ST đã được sử dụng như là biểu tượng của sự kiệt quệ tài chính trong nhiều nghiên cứu liên quan đến các công ty ở Trung Quốc (Altman, Heine, Zhang, và Yen, 2007; Bailey, Huang, & Yang, 2011; Sun & Li, 2008a). Các công ty bị gán nhãn ST trải qua một hoặc nhiều hơn của bốn giai đoạn đó bao gồm thiếu sót hoặc giảm mức chi trả cổ tức hàng năm do thiếu tiền mặt, không thanh toán vốn vay dẫn đến một vụ kiện, bị tái cấu trúc và xoá tên khỏi thị trường chứng khoán, và chuyển giao cho công ty quản lý tài sản để xử lý (Altman et al.
Có hai lý do chính cho việc xem các công ty bị đưa vào dạng kiểm soát đặc biệt là các công ty bị kiệt quệ tài chính. Thứ nhất, sự suy thoái tài chính của một công ty được xem là một quá trình từng bước một, nó như là một sự kiện tiên nghiệm (ex ante) của phá sản là một đại diện tốt của kiệt quệ tài chính (Newton (1975), Gestel cùng cộng sự (2006), và Lau (1987)). Thứ hai, các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc tìm thấy nó khó khăn để có được dữ liệu liên quan đến các công ty bị phá sản do các quá trình phá sản ở Trung Quốc.