Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO RỦI RO PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về phá sản doanh nghiệp và rủi ro phá sản doanh nghiệp 1. Phá sản doanh nghiệp Phá sản doanh nghiệp thông thường được hiểu là tình trạng một doanh nghiệp mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ phải trả như nộp thuế hoặc thanh toán công nợ với các đối tác trong các hợp đồng kinh doanh. Tuỳ thuộc vào quy định của luật phá sản từng quốc gia thì định nghĩa về việc mất khả năng thanh toán của một doanh nghiệp có thể khác nhau tuỳ thuộc vào chỉ số nợ đến hạn chưa thanh toán hoặc theo số ngày quá hạn chưa thanh toán các công nợ.
Ví dụ, luật phá sản Australia quy định các doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản khi: (i) số tiền mặt và giá trị các tài sản còn lại của doanh nghiệp mà có khả năng dễ dàng chuyển nhượng nhỏ hơn tổng số nợ không có tài sản đảm bảo; (ii) khi doanh nghiệp không đưa ra được bằng chứng về khả năng thanh toán số nợ đến hạn trước toà; (iii) khi doanh nghiệp không thực hiện được yêu cầu về pháp lý của toà án về việc thanh toán một món nợ nào đó theo thủ tục pháp lý thông thường. Tương tự, luật phá sản của Bỉ quy định một doanh nghiệp phá sản khi không trả được nợ đến hạn, bị mất uy tín tài chính theo đánh giá của cơ quan công tố và các bên liên quan hoặc có dấu hiệu tìm cách để trả các nghĩa vụ đến hạn bằng các cách thức không hợp pháp. Tại Việt Nam, pháp luật về phá sản doanh nghiệp được quy định đầu tiên từ Quyết định số 315/HĐBT ngày 01/09/19990 của Hội đồng Bộ trưởng. Qua nhiều lần thay đổi, Việt Nam hiện tại đã ban hành Luật Phá sản năm 2014 từ ngày 19/06/2014, theo đó quy định về phá sản tại mục 2, điều 4: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”, theo đó doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được xác định là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Rủi ro phá sản doanh nghiệp Với mục tiêu chính là lợi nhuận, hoạt động của doanh nghiệp luôn tiềm ẩn rủi ro từ khả năng xảy ra những sự kiện không như mong đợi, có tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp. Bên cạnh những rủi ro thường trực như rủi ro kinh doanh từ những sự kiện không lường trước trong hoạt động kinh 7 doanh hay rủi ro tài chính từ những biến động bất thường của các yếu tố tài chính thì rủi ro phá sản là một rủi ro lớn, có tác động tới sự tồn tại của doanh nghiệp. Rủi ro phá sản có thể được định nghĩa là toàn bộ các tác động không như mong muốn của doanh nghiệp, có thể ảnh hưởng tới khả năng chi trả và tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp. Với bản chất gắn liền với khả năng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, rủi ro phá sản có quan hệ mật thiết với các loại rủi ro khác trong hoạt động của doanh nghiệp.
Ví dụ, rủi ro phá sản của doanh nghiệp tăng lên khi doanh nghiệp có cơ cấu vốn dựa nhiều trên các khoản nợ và lãi suất thị trường có xu hướng biến động tăng, làm tăng chi phí lãi vay và áp lực trả nợ cho doanh nghiệp. Với tính chất tổng thể và ảnh hưởng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, không có một định nghĩa rõ ràng và cụ thể nào về rủi ro phá sản. Một trong những nghiên cứu sớm nhất về rủi ro phá sản là của Beaver (1966) khi xác định các công ty có rủi ro phá sản gia tăng khi không trả được nợ trên các khoản thấu chi gia tăng và bỏ qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi. Zhang (2007) cho rằng rủi ro phá sản của các doanh nghiệp gia tăng tới mức bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt khi có lỗ luỹ kế ít nhất 2 năm liên tiếp, dòng tiền kinh doanh liên tục âm và giá trị tài sản ròng trên cổ phiếu thấp hơn giá trị sổ sách.
Tương tự, Knox và cộng sự (2008) cho thấy rằng dòng tiền kinh doanh âm là dấu hiệu rõ ràng cho việc doanh nghiệp không đủ tiền để thực hiện các nghĩa vụ nợ, tiến tới khả năng phải xin phá sản. Như vậy, có thể thấy rằng, không có một định nghĩa cụ thể về rủi ro phá sản. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều đồng tình rằng nguyên nhân chủ yếu của phá sản doanh nghiệp là do sự suy yếu về năng lực tài chính, dẫn đến suy giảm về khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với các nghĩa vụ nợ phải trả đến hạn cho nhà cung cấp, tiền lãi vay ngân hàng hay trả nợ gốc ngân hàng hoặc trái phiếu. Trong phạm vi đề tài, nhóm nghiên cứu thực hiện đánh giá rủi ro phá sản của doanh nghiệp khi thoả mãn một trong ba yếu tố: (i) Công ty đã không còn hoạt động liên tục trên thực tế; (ii) công ty bị huỷ niêm yết khỏi thị trường chứng khoán do ba năm lỗ liên tiếp trong hoạt động kinh doanh; và (iii) công ty có rủi ro phá sản cao với hệ số Altman (1968) nhỏ hơn 1.
Ảnh hưởng của phá sản và rủi ro phá sản doanh nghiệp Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản có thể dẫn tới các tác động tiêu cực tới kinh tế và xã hội. 8 Đối với môi trường xã hội Khi một doanh nghiệp phá sản sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động sản xuất, đời sống, việc làm và thu nhập của người lao động. Doanh nghiệp phá sản dẫn tới tình trạng mất việc làm cùa người lao động.
Điều này khiến họ mất thu nhập, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và tinh thần của người lao động cũng như gia đình của họ. Nếu tình trạng này xảy ra ở quy mô lớn, ảnh hưởng tới nhiều người lao động có thể dẫn tới các rủi ro về mặt xã hội khi người lao động buộc phải tìm kiểm các nguồn thu nhập khác, đôi khi là các hoạt động phi pháp luật, gây tác động kép tới xã hội. Đối với nền kinh tế Doanh nghiệp phá sản sẽ gây ra các tác động tiêu cực đến nền kinh tế, đặc biệt khi các doanh nghiệp bị phá sản là các doanh nghiệp lớn, có tác động tới nhiều chủ thể khác trong lĩnh vực kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp khi bị phá sản có thể gây ảnh hưởng lan truyền trong nền kinh tế dưới góc độ lan truyền và cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh (Lang và Stulz, 1992).
- Ảnh hưởng cạnh tranh: một doanh nghiệp phá sản có thể coi là một tin tức tốt đối với các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành, giúp gia tăng thị phần và tỷ suất lợi nhuận, nhờ đó giúp giá cổ phiếu có xu hướng tăng giá (Ferris và cộng sự, 1997). - Ảnh hưởng lan truyền: một doanh nghiệp phá sản cũng có thể gây ra tác động lan truyền tiêu cực tới các doanh nghiệp khác cùng ngành khi niềm tin vào ngành của các bên liên quan bị suy giảm (Carton và cộng sự, 2003). Ferris và cộng sự (1997) chỉ ra rằng, phá sản của một doanh nghiệp có thể khiến sự tín nhiệm của khách hàng vào các công ty khác cùng ngành bị ảnh hưởng, dẫn đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu các công ty cùng ngành bị sụt giảm, ít nhất trong ngắn hạn. Bên cạnh ảnh hưởng tới các doanh nghiệp cùng ngành, rủi ro phá sản doanh nghiệp gia tăng cũng có thể ảnh hưởng lan truyền tới các doanh nghiệp khác trong chuỗi cung ứng.
Các doanh nghiệp đối tác có thể gặp khó khăn khi không bị mất đối tác mua hàng hoặc bị mất nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với các chủ nợ, việc không thu được tiền thanh toán như dự kiến có thể gây ảnh hưởng tới kế hoạch hoạt động kinh doanh và đầu tư của các doanh nghiệp. Nguyên nhân của rủi ro phá sản doanh nghiệp Theo Holland (1998), hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro phá sản của doanh nghiệp: Cú sốc đột ngột từ hoạt động kinh doanh và thất bại từ chiến lược kinh doanh. 9 Theo đó, các cú sốc đột ngột trong hoạt động kinh doanh như thay đổi chính sách, thay đổi đột ngột bộ máy quản lý, sự phá sản của một đối tác quan trọng hoặc không thể khắc phục kịp thiệt hại của một rủi ro bất thường bên ngoài.
Thất bại từ chiến lược kinh doanh có thể đến từ hoạt đột kinh doanh không được như kỳ vọng, chiến lược sai lầm dẫn tới khả năng sinh lời suy giảm, dẫn đến công ty bị đóng cửa hoặc ngừng hoạt động. Các nguyên nhân của rủi ro phá sản cũng có thể xuất phát từ các nguyên nhân bên trong hoặc bên ngoài: - Nguyên nhân bên trong: bao gồm các nguyên nhân dẫn đến phá sản doanh nghiệp từ sự quản lý yếu kém, sự không phù hợp trong phát triển hoặc quản trị doanh nghiệp, thất bại trong các dự án chiến lược: + Chất lượng quản lý: Đội ngũ quản lý có vai trò quan trọng, quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh n ghiệp. Buccino và Associates (1991) chỉ ra rằng sự khác biệt giữa một doanh nghiệp thất bại và thành công được quyết định tới 88% bởi chất lượng của đội ngũ quản lý. Altman và Hotchkiss (1993) cũng cho thấy sự thiếu kinh nghiệm, trình độ và hiểu biết của đội ngũ quản lý là nguyên nhân dẫn tới 45% phá sản của doanh nghiệp.
Bên cạnh đội ngũ quản lý, chất lượng quản trị doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng. Argenti (1976) cho thấy các nguyên nhân chính được tìm thấy bao gồm: sự yếu kém của đội ngũ quản lý, thông tin kế toán, vay nợ cao, sự thua kém về công nghệ so với các doanh nghiệp cùng ngành, đạo đức của nhân viên dẫn tới chất lượng hàng hoá và dịch vụ yếu kém. Sự khác biệt của chất lượng quản lý có thể được nhìn thấy rõ nét nhất ở sự khác biệt giữa các công ty lâu năm và các công ty mới thành lập.