Chương 1: Chuỗi thời gian và phân tích dự báo chuỗi thời gian Phân tích, dự báo chuỗi thời gian có thể được chia làm hai loại: Phân tích, dự báo theo mức thời gian và phân tích mối liên hệ nguyên nhân - kết quả. Phương pháp dự báo theo mức thời gian liên quan đến việc dự báo các giá trị tương lai của yếu tố được nghiên cứu dựa trên sự tương quan với các quan sát trong quá khứ và hiện tại. Trong khi đó phân tích mối liên hệ nhân quả liên quan đến việc xác định các nhân tố khác ảnh hưởng đến yếu tố muốn dự báo, như dùng phương pháp phân tích hồi qui bội xem xét GDP phụ thuộc vào lượng đầu tư trong nước, lượng đầu tư nước ngoài, dân số… Luận văn này chỉ tập trung vào phân tích, dự báo theo mức thời gian dựa trên giả định cơ bản là các yếu tố ảnh hưởng đến biến động của hiện tượng trong quá khứ và hiện tại sẽ còn tiếp tục tồn tại trong tương lai. Chương này sẽ trình bày sơ lược một số vấn đề chủ yếu liên quan đến chuỗi thời gian bao gồm khái niệm, dự báo cho chuỗi thời gian và các đại lượng đặc trưng của nó, tiếp đó trình bày về các mô hình chuỗi thời gian đơn giản, đưa ra một số phương pháp kiểm định thống kê cho mô hình chuỗi thời gian.
Chi tiết xin tham khảo ở phần Phụ lục. Chuỗi thời gian và dự báo chuỗi thời gian 1. Định nghĩa chuỗi thời gian Chuỗi dữ liệu phụ thuộc thời gian được chia làm hai loại: - Chuỗi dữ liệu phụ thuộc thời gian được quan sát, đo đạc trong khoảng thời gian rời rạc: Các quan sát được thực hiện tại các thời điểm tách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- biệt, chúng thường là các quan sát được đo tại các mốc thời gian cách đều nhau, ví dụ chuỗi thời gian được đo theo tuần, quý, tháng, năm, …. - Chuỗi dữ liệu liên tục theo thời gian: Các quan sát được đo trong khoảng thời gian liên tục, ví dụ chuỗi dữ liệu đo nhiệt độ trong ngày (nhiệt kế).
Luận văn này tập trung vào chuỗi dữ liệu phụ thuộc thời gian được đo trong khoảng thời gian rời rạc và cách đều nhau, gọi là chuỗi thời gian (series time data) Như vậy: Chuỗi thời gian là một tập giá trị các quan sát của biến ngẫu nhiên, ký hiệu là {zt } , t 1,.,n là số các quan sát, đo được trong các khoảng thời gian t như nhau (hàng năm, quý, tháng, tuần, ngày …) và được xếp theo thứ tự thời gian. Ví dụ: - Chuỗi giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được đo theo từng quý. - Chuỗi giá trị đo lượng mưa trung bình hàng năm. - Chuỗi giá trị chỉ số thị trường chứng khoán đo theo ngày.
- Chuỗi giá trị đo sản lượng điện năng tiêu thụ của Việt Nam đo theo từng tháng, từng quí trong nhiều năm. - Chuỗi giá trị về chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam theo từng tháng, quý trong năm. Dự báo chuỗi thời gian Dự báo chuỗi thời gian là ước lượng các giá trị của biến ngẫu nhiên chuỗi thời gian zt h (h 1) , ký hiệu là zˆt ( h) , dựa trên sự tương quan với các giá trị của biến ngẫu nhiên {zt } đã được quan sát trong quá khứ. Chất lượng của dự báo phụ thuộc vào nhiều yếu tố chẳng hạn sự phức tạp của chuỗi thời gian khi thực hiện phân tích, tác động của nhiều yếu tố bất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- thường không thể lường trước được khi tiến hành dự báo, ngoài ra độ chính xác cũng còn phụ thuộc phần lớn vào khoảng cách xa gần của dự báo (dự báo gần thì cho độ chính xác của dự báo tốt hơn so với dự báo xa).
Đại lượng đặc trưng chuỗi thời gian Giả sử có chuỗi thời gian {zt } gồm n các quan sát, t 1,. Các đại lượng thống kê đặc trưng cho chuỗi thời gian Kỳ vọng: Đại diện cho giá trị trung tâm trong chuỗi: E ( zt ) (1.1) Kỳ vọng của tổng thể được tính dựa trên mẫu các quan sát gọi là kỳ vọng mẫu, như sau: 1 n z zt (1.2) n t 1 Phương sai: Đại diện cho mức độ phân tán các giá trị trong chuỗi xung quanh kỳ vọng của nó: var (zt ) σ z2 E[(zt μ)2 ] (1.3) Tương tự, phương sai mẫu được tính: 1 n ˆ z2 n t 1 ( zt z ) 2 (1.4) Độ lệch chuẩn: là căn bậc hai của phương sai mẫu: ˆ z ˆ z2 (1.5) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các đại lượng mô tả mối quan hệ giữa các phần tử trong chuỗi Tự hiệp phương sai: Tự hiệp phương sai giữa hai z t và z t k , giữa chúng có k 1 quan sát gọi là k độ trễ, được xác định như sau: z (k ) cov zt , zt k E ( zt )( zt k ) (1.6) Trong đó, là kỳ vọng chung của z t và z t k. Tự hiệp phương sai khi độ trễ k 0 chính là phương sai của z t : z (0) covzt , zt z2.
Tương tự, tự hiệp phương sai mẫu được tính: 1 nk ˆ z (k ) ( zt z )( zt k z ) , k 1,.7) n t 1 Trong đó, z là kỳ vọng mẫu của z t và z t k. Hàm tự tương quan (ACF): Mô tả tương quan tại trễ k giữa các giá trị trong chuỗi thời gian, được xác định: cov( zt , zt k ) z (k ) E( zt )( zt k ) k (1.8) zt zt k zt zt k E ( zt ) 2 E ( zt k ) 2 Trong đó, z (k ) là tự hiệp phương sai, zt , zt k lần lượt là độ lệch chuẩn của z t và z t k. Tự tương quan mẫu được tính theo công thức: ˆ z (k ) ˆ k (1. Nhưng điều ngược lại chưa hẳn đã đúng.
Hàm tự tương quan từng phần (PACF): Tự tương quan giữa hai biến z t và z t k gồm k 1 biến trung gian z t 1 , z t 2 , … , zt k 1 : TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- k 1 k k 1, j k j j 1 kk k 1 , độ trễ k 2,3,.11) Giá trị ban đầu, 11 1 Bằng tính toán tương tự trên các quan sát mẫu có được tự tương quan từng phần mẫu ˆkk. Khảo sát tự tương quan từng phần như một hàm với tham số biến thiên theo độ trễ k được gọi là hàm tự tương quan từng phần. Hệ số R2: Được sử dụng để đo độ thích hợp của mô hình ước lượng. Giả sử cho mô hình hồi qui chuỗi thời gian y t 1 2 z t at.
Hệ số R 2 được tính: n ( ( z i z )( y i y )) 2 R 2 n i 1 n (1.12) ( zi z ) ( yi y ) 2 2 i 1 i 1 Trong đó, n là số các quan sát, z là kỳ vọng mẫu của biến độc lập z t , y là kỳ vọng mẫu của biến phụ thuộc y t. Dễ dàng thấy 0 R 2 1 nếu R 2 tiến đến 1 thì mô hình hồi qui được lựa chọn là hợp lý, ngược lại nếu R 2 tiến về 0 thì mô hình được lựa chọn là chưa hợp lý. Hệ số điều chỉnh R 2 : Đôi khi hệ số R 2 không phản ánh trung thực mức độ hợp lý của mô hình, chẳng hạn khi thêm các tham biến được cho là không hợp lý vào mô hình thì R 2 không những không giảm mà ngược lại còn tăng lên. Vì thế hệ số điều chỉnh R 2 được xem xét để thẩm định rõ sự phù hợp của mô hình: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.13) nk ở đây n là số các quan sát của chuỗi thời gian, k là số các tham biến trong mô hình.
R 2 luôn nhỏ hơn R 2 , và giảm nếu bổ sung thêm biến hồi qui không hợp lý vào mô hình. Phân tích, dự báo chuỗi thời gian Quá trình phân tích, dự báo chuỗi thời gian {zt } là để tìm ra các mô hình, luật ẩn trong nó, việc này được thực hiện trên các quan sát mẫu, gồm có những bước sau: Bước 1: Nhận dạng các thành phần ẩn tồn tại trong chuỗi thời gian [4] - Thành phần xu thế (Trend - T): Thể hiện chiều hướng biến động tăng hoặc giảm của các hiện tượng nghiên cứu trong thời gian dài. - Thành phần chu kỳ (Period - P): Thể hiện biến động của hiện tượng được lặp lại với chu kỳ nhất định, thường kéo dài từ 2 đến 10 năm. - Thành phần mùa vụ (Seasonal - S): Biểu hiện sự tăng hoặc giảm mức độ của hiện tượng ở một số thời điểm (tháng, quý, năm) nào đó được lặp đi lặp lại qua nhiều năm.
- Thành phần ngẫu nhiên (Irregular - I): Thể hiện những biến động không có qui luật và hầu như không dự báo hoặc quan sát được trong của hiện tượng đang nghiên cứu. Những thành phần này kết hợp với nhau trong chuỗi thời gian bằng nhiều cách thức khác nhau, chẳng hạn chuỗi thời gian z t được mô tả là tích các thành phần, zt T P S I gọi là mô hình tích, hoặc zt T P S I gọi là mô hình tổng, hoặc kết hợp cả hai zt T P S I. Do vậy, để phân tích và nghiên cứu hành vi cũng như dự báo biến động của chuỗi thời gian thì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 11 - cần thiết phải ước lượng được các thành phần nói trên trong chuỗi thời gian và cách thức kết hợp chúng với nhau trong chuỗi. Bước 2: Làm trơn số liệu Tuỳ theo mô hình dự báo áp dụng mà cần thiết tiến hành bước làm trơn số liệu hay không ?.
Trong trường hợp mô hình dự báo áp dụng cần quá trình làm trơn số liệu ta tiến hành loại trừ được thành phần xu thế và mùa vụ trong chuỗi thời gian. Chuỗi thu được sau cùng không còn chứa các thành phần đó (chuỗi được làm trơn) sẽ khiến cho việc phân tích dễ dàng hơn.