chương 1 giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về mục tiêu và phạm vi của luận văn. Ngoài ra, chương này cũng giới thiệu bố cục của luận văn, làm rõ cách thức tổ chức và triển khai các nội dung tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Mục tiêu của chương 2 là thiết lập cơ sở lý thuyết vững chắc nhằm chứng minh mối liên hệ giữa sự đổi mới trong CNTT – TT đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. Đồng thời, chương 2 còn nhằm xác định những khoảng trống nghiên cứu thông qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm, từ đó tạo tiền đề phát triển cho luận văn này.
Ngoài ra, chương 2 sẽ cung cấp nền tảng cho việc phân tích, đánh giá và xây dựng các phương trình nghiên cứu trong chương 3 của luận văn này. Trên cơ sở đó, để đạt được mục tiêu đề ra, chương 2 của luận văn này được xây dựng theo hướng: - Hiểu rõ các khái niệm về sự đổi mới CNTT – TT và hiệu quả hoạt động của NHTM thông qua phân tích chỉ số ICT và Tobin’s Q; - Tiến hành phân tích các khung lý thuyết có liên quan. Khung lý thuyết có tác động như một kim chỉ nam của luận văn, ngoài việc cung cấp cái nhìn tổng quát, các khung lý thuyết này còn giúp thu hẹp phạm vi nghiên cứu của luận văn thông qua việc xác định các biến số chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. - Phân tích các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước để minh họa cho mối quan hệ giữa sự đổi mới CNTT-TT và hiệu quả hoạt động của NHTM.
Điều này không chỉ giúp xác định các lỗ hổng trong nghiên cứu hiện tại mà còn hỗ trợ xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp.1 Các khái niệm liên quan trong nghiên cứu 2.1 Khái niệm về đổi mới CNTT – TT Quá trình đổi mới công nghệ là một khái niệm phức tạp, được định nghĩa theo nhiều phương pháp và góc nhìn khác nhau. “Đổi mới công nghệ” có thể được xem như một quá trình tăng cường và cải tiến hệ thống công nghệ hiện hữu (Dosi, 1983) hay chuyển hóa một cơ hội thành lợi thế thực tiễn (Pavitt, 1984). Một cách toàn diện, khái niệm “đổi mới” được xem như một sự kết hợp giữa thúc đẩy giới hạn công nghệ hiện hữu và chuyển đổi các tiềm năng thành lợi thế thương mại tốt nhất giúp mở rộng 8 việc phân phối hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ của tổ chức đó trên thị trường (Rothwell và Gardiner, 1985).2 Chỉ số đo lường mức độ đổi mới CNTT – TT Theo báo cáo của Bộ TT & TT, “chỉ số ICT là chỉ số thể hiện cho mức độ phát triển và ứng dụng CNTT – TT trong các lĩnh vực ở mỗi quốc gia” (Bộ TT&TT, 2022). Báo cáo về chỉ số ICT được Vụ Công nghệ thông tin – Bộ TT & TT tiến hành thực hiện từ năm 2006 nhằm xếp hạng, đánh giá các bộ, cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan trực thuộc Chính phủ, các đơn vị hành chính cấp tỉnh, NHTM và các tổng công ty/ tập đoàn kinh tế lớn.
Chỉ số ICT được ra đời với mục đích: - Đánh giá thực trạng ứng dụng và mức độ phát triển CNTT – TT của các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại và các đơn vị hành chính cấp tỉnh cũng như các bộ, ngành tại Việt Nam; - Xây dựng bức tranh toàn cảnh và rõ nét về thực trạng phát triển và mức độ ứng dụng CNTT tại Việt Nam; - Hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức tài chính, và các đơn vị hành chính công nhận thức rõ hơn về tình trạng sử dụng CNTT – TT tại đơn vị nhằm thiết lập các chính sách thích hợp để cải thiện và tăng cường hiệu quả sử dụng CNTT-TT trong phục vụ các mục tiêu kinh tế – chính trị – xã hội chung. Các NHTM sẽ được xếp hạng dựa trên kết quả của chỉ số này. Điều này giúp phản ánh năng lực và hiệu quả hoạt động của từng tổ chức trong ngành ngân hàng. Ngoài ra, chỉ số ICT tổng quát và chỉ số ICT thành phần của mỗi NHTM trong ba năm liên tiếp cũng sẽ được thể hiện nhằm đánh giá mức độ đổi mới, cải tiến hệ thống CNTT của các tổ chức qua từng thời kỳ.
Có thể nói, ICT là một thước đo toàn diện cho quá trình phát triển, đổi mới và hiện đại hóa CNTT tại các NHTM và đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam để đo lường mức độ phát triển và đổi mới của hệ thống CNTT – TT (Ngo Van Toan và Pham Le Quang, 2023; Nguyen Van Thuy, 9 2021; Le Vu Toan Linh, & Pham Duy Khanh, 2022, Nguyễn Hữu Mạnh & Vương Thị Hương Giang, 2022). Phương pháp thu thập số liệu Sau khi có công văn của Bộ TT&TT về việc thu thập dữ liệu phục vụ cho việc xây dựng Báo cáo chỉ số ICT Index thường niên, bộ phận chuyên trách CNTT của các NHTM sẽ thực hiện thu thập và tổng hợp số liệu phù hợp với các nhóm chỉ tiêu của từng tổ chức và điền vào phiếu thu thập số liệu theo mẫu của Bộ TT&TT. Ngoài ra, các số liệu đầu vào phục vụ cho việc tính toán chỉ số ICT còn được thu thập từ những nguồn đáng tin cậy như các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông VNPT, FPT, Viettel, v. khi khai thác số liệu liên quan đến hệ thống hạ tầng viễn thông.
Bên cạnh đó, dữ liệu từ các nguồn chính thống khác như: trang thông tin điện tử của các đơn vị được khảo sát, dữ liệu từ Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê, v. cũng đã được sử dụng làm cơ sở đối chứng. Đối với lĩnh vực các NHTM, có 4 nhóm chỉ tiêu thành phần chính dùng để tính toán chỉ tiêu ICT bao gồm: hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng nhân lực, ứng dụng nội bộ ngân hàng, và dịch vụ trực tuyến của ngân hàng, cụ thể: - Hạ tầng kỹ thuật được đánh giá thông qua các tiêu chí: o Hạ tầng máy chủ, máy trạm; o Hạ tầng truyền thông; o Hạ tầng ATM, POS; o Triển khai các giải pháp an ninh thông tin và an toàn dữ liệu; o Trung tâm dữ liệu và trung tâm dự phòng thảm họa; - Hạ tầng nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí: o Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về CNTT; o Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về an toàn thông tin; o Tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT có chứng chỉ quốc tế chuyên ngành CNTT trên tổng số cán bộ chuyên trách CNTT. - Ứng dụng nội bộ ngân hàng được đánh giá thông qua các tiêu chí: o Triển khai core banking; o Triển khai các ứng dụng cơ bản; 10 o Triển khai thanh toán điện tử.
- Dịch vụ trực tuyến của ngân hàng được đánh giá thông qua các tiêu chí: o Website của ngân hàng; o Internet Banking cho khách hàng cá nhân; o Internet Banking cho khách hàng doanh nghiệp; o Các dịch vụ ngân hàng điện tử khác. Theo đó, các chỉ số thành phần của chỉ số này được “áp dụng phương pháp chuẩn hóa kép theo Z-Score và Min-Max khi tính các chỉ số thành phần và sử dụng chuyên gia đánh giá độc lập về dịch vụ công trực tuyến nhằm đồng nhất với phương pháp tính của Báo cáo Chính phủ điện tử của Liên hiệp quốc”. Sau đó, chỉ số ICT Index tổng hợp sẽ được tính toán bằng cách lấy giá trị trung bình cộng của bốn chỉ số thành phần này (Bộ TT&TT, 2022). Chuẩn hóa dữ liệu Các dữ liệu thô sau khi thu thập từ các NHTM sẽ được tiến hành chuẩn hóa theo phương pháp Z-Score trước khi được dùng để 琀nh toán các chỉ số thành phần theo Trong đó: = công thức 2.1) n - A : Giá trị của tiêu chí A sau chuẩn hóa bằng phương pháp Z-Score; - µ: Giá trị trung bình của tiêu chí A; - σ: Độ lệch chuẩn của tiêu chí A.
Sau khi chuẩn hóa, giá trị của các chỉ số thành phần sẽ được 琀nh toán theo công Trong đó: = ∑ =1 thức 2.2) - m: Tổng số tiêu chí con trong nhóm j; n - A : Giá trị của tiêu chí A sau chuẩn hóa bằng phương pháp Z-Score; j - Tk : Giá trị của chỉ số thành phần T thứ k trong nhóm j. 11 Sau đó, chỉ tiêu thành phần T được chuẩn hóa theo phương pháp Min – Max để đưa về vùng giá trị |0 – 1| theo công thức 2.3) − = − Trong đó: n - T : Giá trị của chỉ tiêu thành phần T sau chuẩn hóa bằng phương pháp Z- Score; - Tmax: Giá trị lớn nhất của chỉ tiêu T; - Tmin: Giá trị nhỏ nhất của chỉ tiêu T. Phương pháp phân tích: Số liệu sau khi kiểm tra, hiệu chỉnh và bổ sung sẽ được chuẩn hóa và đưa vào tính toán các chỉ số thành phần. Sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính - Principal Components Analysis tính toán các hệ số tương quan của các chỉ số thành phần thông qua phần mềm SPLUS Professional Release 3.
Sau khi có các hệ số tương quan, thực hiện tính toán chỉ số chính ICT bằng cách lấy trung bình cộng của các chỉ số thành phần, cụ thể theo công thức 2.4) - I: Chỉ số ICT chính cho các NHTM; - THTKT: Chỉ số ICT thành phần về Hạ tầng kỹ thuật; - THTNL: Chỉ số ICT thành phần về Hạ tầng nhân lực; - TUDNB: Chỉ số ICT thành phần về Ứng dụng nội bộ; - TDVTT: Chỉ số ICT thành phần về Dịch vụ trực tuyến. Chỉ số ICT tổng hợp này sẽ được dùng để xếp hạng từng đơn vị trong cùng khối ngành nghề. Đây là những số liệu được đánh giá là rất hữu ích cho các cơ quan quản lý trong công tác chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính sách. Đối với các các tổ chức, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu, tư vấn chính sách liên quan đến phát triển và ứng dụng CNTT thì đây cũng là nguồn số liệu để tham khảo rất bổ ích, đôi khi còn là duy nhất.
Vì vậy, trong luận văn này, tác giả lựa chọn chỉ số ICT để đo lường mức độ đổi mới hệ thống CNTT – TT của các NHTM khảo sát.3 Khái niệm về hiệu quả hoạt động ngân hàng Theo định nghĩa của Ngô Đình Giao (1997): Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng hoặc quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Nó biểu thị mối tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.