Chương 1 của luận văn đã tập trung vào xác định những vấn đề về lý do chọn để tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Từ đó, đề ra đối tượng. phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Trình bày các đóng góp cụ thể về mặt thực tiễn và bố cục chính của luận văn.
CO SO LY THUYET VA TINH HiNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại 2. Khái niệm hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại Basel (1988) đã ban hành hàng loạt các tiêu chuân hay quy định hướng dẫn giám sắt sự én dinh, théng nhất của hệ thống ngân hàng quốc tế,nhằm hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế. Các quy định này đã tập trung nhiều vào RRTD đặc biệt là sự tối thiểu với mức vốn là 8%, hay nói cách khác các NHTM trong HĐKD cần phải giữ lại ít nhất 8% lượng vốn tính trên tổng tải sản, hệ số này được gọi là CAR và tính toán với những phương pháp khác nhau dựa trên mức độ phụ thuộc rủi 1o của ngân hàng.
Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng hệ số CAR. được xem là tỷ lệ giúp các ngân hàng chống lại việc mắt khả năng thanh khoản và thoát khỏi những khó khăn. Đây là tỷ lệ được xác định bởi tỷ lệ vốn ngân hàng liên quan đến nợ ngắn hạn và tài sản phát sinh rủi ro. Tài sản có rủi ro phản ảnh số lượng tài sản của ngân hàng có điều chỉnh rủi ro.
Do đó, mức độ đảm bảo về lượng vôn phù hợp đề giúp ngân hàng mở rộng kinh doanh, hạn chế sự rủi ro của các tài sản mà không bị mắt tính thanh khoán lẫn thanh toán. Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng hệ số CAR được xem là tỷ lệ giúp cho các NHTM có thể đáp ứng được các khoản nợ khi đến hạn, trong trường hợp các RRTD, rủi ro thị trường hay hoạt động diễn ra với ngân hàng. Hệ số CAR này thường được quyết định bởi NHNN và được điều chỉnh cho phù hợp với NHTM trong HĐKD, mục đích chính của hệ số này là để ngăn ngừa việc các NHTM có tỷ lệ nợ và cho vay vượt quá ngưỡng an toàn dẫn đến vỡ nợ. 10 Tóm lại, hệ số CAR tại luận văn này được hiểu là một chỉ tiêu quan trọng của các NHTM phản ánh sự liên hệ giữa vốn tự có và tải sản có điều chỉnh rủi ro.
Hệ số CAR phản ảnh năng lực tài chính của ngân hàng trong việc duy trì sự an toàn và ôn định trong HĐKD nhằm đảm bảo về khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình. Đồng thời, hệ số này phán ánh sự chấp hành của các NHTM theo quy định của NHNN về mức dự trữ lượng vốn với tỷ lệ tối thiểu để phòng ngừa các rủi ro có thể xây ra. Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng hệ số CAR là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá sự hiệu quả trong HĐKD của các NHTM, đặc biệt với bối cảnh cạnh tranh của các NHTM với nhau và sự lành mạnh đang được quan tâm. Ngoài ra, hệ sé CAR phan ánh sự hoạt động hiệu quả của NHTM với cấp tín dụng, nó được xem như tỷ lệ đòn bẩy của kinh doanh mà ngân hàng có năng lực về vốn tự có để hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán và duy trì sự thanh khoản với mức ôn định.
Từ đó, giúp ngân hàng tránh được các RRTD, rủi ro hoạt động và thị trường. Tuy hệ số CAR được xác định dựa trên dữ kiện ngân hàng nhưng nó có ý nghĩa với các đối tượng cụ thể sau: -_ Đối với NHTM: Hệ số CAR thể hiên khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. Khi ngân hàng đám báo được hệ số này thì các rủi ro hay cú sốc tài chính đã được phòng bị trước đó, từ đó ngân hàng có thể hạn chế được thiệt hại. -_ Đất với nhà đầu tw.
Hé sé CAR cung cấp thông tin cho nhà đầu tư về mức độ chịu rủi ro của các NHTM, từ đó cảnh báo cho nhà đầu tư hay khách hàng gửi tiền về rủi ro của ngân hàng. Khi đánh giá hệ số CAR ôn định thì các nhà đầu tư và khách hàng có thể an tâm tin tưởng vào ngân hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ thanh toán hay sinh lời. -_ Đất với NHNN: Hệ số CAR giúp cho NHNN tăng cường được công tác quản lý hiệu quả về mức an toàn vốn tối thiểu tại các NHTM, nhằm tạo ra sự ổn định 11 trong hoạt động, phòng ngừa các rủi ro nêu xảy ra, duy trì sự an toàn cho hệ thống trong trường hợp NHTM phá sản và đặc biệt là sự cạnh tranh lành mạnh. Mặt khác, dựa vào hệ số nay thi NHNN đánh giả rủi ro của các NHTM, từ đó thiết lập những quy định phù hợp về hệ số này để đảm bảo tính lâu dai ổn định cho hệ thống tài chính, an toàn cho hệ thống thanh toán của quốc gia, duy trì sự tăng trưởng cho nền kinh tế.
Ngoài ra, hệ số CAR được xem là công cụ để NHNN thực hiện các công tác kiểm tra, giám sát, thi hành các chế tài với các NHTM về biệc bảo toàn, phát triển, đảm bảo lượng vốn thực có khi đăng kí với các cơ quan của NHNN. Đồng thời, kiểm tra các khoản trích lập dự phòng RRTD nhằm xem xét sự hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn huy động dé cho vay, nêu không làm theo quy định thì khả năng NHTM phá sản trong tương lai sẽ tăng cao (Phan Thị Thu Hà, 2013). Các chỉ tiêu đo lường hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại 2. Theo quan điễm của Basel I Basel I (1988) cho rằng các NHTM phải duy trì mức tỷ lệ vốn bắt buộc trên tổng tải sản có điều chỉnh rủi ro tại mức 8%.
Đồng thời, Basel I cho rằng các loại vốn của ngân hàng có thé phân theo 3 cấp theo khả năng chủ động, tương ứng từ cấp 1 cao nhất đến mức thấp nhất là cấp 3, với các cấp nảy tạo sự tin cậy trong sử dụng vốn. Với cấp 3 có độ tin cậy thấp nên không được tính vào hệ số CAR. Basel I phân tài sản theo các mức rủi ro lần lượt là 0%, 20%, 50%, 100%. Do đó, quy định của Basel I chỉ mang tính tương đối vì mức rủi ro của tài sản căn cứ vào các tài sản đảm bảo và nhóm khách hàng mà không tập trung vào quy mô của món vay; kỳ hạn hay sự tín nhiệm của khách hàng.
Mặt khác, quy định này chỉ mới dừng lại tại RRTD mà chưa tín đến các rủi ro hoạt động và thị trường. Hệ số CAR được tính theo công thức của Basel I như sau: GAR—— Tài PPsản Em có rủi Ủ roNH(RWA) __ Nguôn: Basel I (1988) 12 2. Theo quan điểm của Basel II Với những hạn chế của Basel I (1988) thì Basel II (2004) với nội dung tập trung vào 3 trụ cột chính đó là tỷ lệ duy trì vốn bắt buộc, các hoạt động thanh tra giám sát và công bố thông tin tại các NHTM. Với tỷ lệ vốn bắt buộc thì mức tối thiểu mà các NHTM phải duy trì là 8%, tuy nhiên mẫu số với hệ số CAR sẽ thay đổi đáng kẻ phụ thuộc vào hệ số rủi ro của tài sản (không chỉ phụ thuộc vào tải sản đảm bảo của khách hàng mà còn liên quan đến độ nhạy rủi ro và hệ số tín nhiệm của khách hàng).
Với Basel I thì hệ số nảy xác định từ 0 — 100% còn Basel II nới rộng từ 0 — 150%. Mặt khác, mẫu số của hệ số này không chỉ có tổng tài sản điều chỉnh rủi ro mà còn gồm 12,5 lần tổng vốn quy định dành có các khoản dự phòng rủi ro hoạt động, thị trường. Với Basel II thì các NHTM sẽ hoạt động theo hướng an toàn và lành mạnh hơn, trình độ quản trị rủi ro phải được tăng cường đi kèm các biện pháp. Hệ số CAR được tính theo công thức của Basel II như sau: Vốn tự có CAR = (RWA rủi ro tín dụng + RWA rủi ro hoạt động + RWA rủi ro thị trường) Nguôn: Basel II (2004) 2.
Theo quan điểm Basel III Basel III (2010) tap trung vào việc quy định các NHTM nắm giữ các loại tài sản có tính thanh khoản cao và chất lượng đề có thể quy đồi, đáp ứng việc chỉ trả cho các khoản nợ đến hạn khi có rủ1 ro bất thường. Đặc biệt Basel III tập trung vào 4 điểm sau: Thứ nhất, các NHTM buộc phải rà soát các tiêu chuẩn về nguồn vốn cấp 1, 2 đặc biệt là VCSH, những loại tải sản kém chất lượng cần khấu trừ thắng vào vốn cỗ phần thường, các khoản vốn vượt quá giới hạn 15% đầu tư vào các tô chức tài chính 13 khác, các khoản vốn xuất phát từ thuế thu nhập hoãn lại buộc khấu trừ trực tiếp vào VCSH. Thứ hai, các NHTM buộc gia tăng dự trữ đặc biệt là VCSH, nâng tỷ lệ vốn cô đông thường tối thiểu đang tại mức 2% lên đến 4%, vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên đến 6%, bé sung lót đệm cho dự phòng tài chính bằng VCSH lên 2,5%, đệm dự phòng cho suy giảm của chu kì kinh tế từ 0% lên 2,5% VCSH. Mức CAR tối thiểu là 8%, tăng tỷ trọng vốn cấp 1 bằng cách tăng vốn phô thông.
Thứ ba, phương pháp giám sát vĩ mô được giới thiệu đề hạn chế rủi ro hệ thống, nhằm giảm mức ảnh hưởng của chu kì khủng hoảng và các rủi ro xuất phát từ sự liên quan lẫn nhau giữa các định chế tài chính khác. Thứ tư, các NHTM cần phải có các tiêu chuẩn dé tính toán tình trạng thanh khoản của mình, đồng thời yêu cầu các NHTM phải năm giữ lượng tài sản mang tính thanh khoản cao về chất lượng và quy đôi để phòng ngừa cho các trường hop rủi ro bất ngờ. Vốn tự có CAR = (RWA rủi ro tín dụng + RWA rủi ro hoạt động + RWA rủi ro thị trường) Nguồn: Basel III (2010) Với sự khái quát ba quan điểm của Basel L, II, IIT tại các thời điểm thì tại luận van nay hé sé CAR sé duoc sit dung thông qua tiêu chí đo lường như sau: Vốn tự có CAR = (RWA rủi ro tín dụng + RWA rủi ro hoạt động + RWA rủi ro thị trường) Với tổng số vốn bắt buộc là tổng lượng vốn cấp 1,2,3.