CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Động lực “Động lực” là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Các nhà quản trị luôn muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng động lực của người lao động là gì.
Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ nhân. Theo Bedeian (1993), "động lực là cố gắng để đạt mục tiêu của mỗi cá $ nhân". Theo Higgins (1994), "động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn". Theo Kreitner (1995), "động lực là một quá trình tâm lí mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định".
Cần phân biệt hai khái niệm động lực và động cơ: cả động lực và động cơ đều hết sức quan trọng nhưng động lực có tính bền vững hơn, là yếu tố “gốc rễ”, bản chất. Động cơ là lý do tại sao chúng ta muốn làm một việc nào đó, còn động lực nằm ngoài cả lý do mà bạn muốn làm. Cũng chính vì lẽ này, động cơ là cụ thể, còn động lực là tổng quát (khó hình dung, không thể cảm nhận ngay). Động cơ là cần đến sức mạnh, năng lượng hay tác động ngoại vi trong khi Động lực tồn tại từ bên trong, do sức mạnh hay năng lượng nội tại tạo ra mà không cần đến yếu tố ngoại vi.
Động cơ là ngắn hạn còn động lực là lâu dài. Nếu động cơ là “thích/muốn” thì Động lực là đam mê/nên. Chiếc máy bay không thể bay, nếu không có đủ nhiên liệu cần thiết. Cũng tương tự, chúng ta không nhớ đến cái đèn vì vị trí hay kiểu dáng của nó – Động cơ, mà là ánh sáng – Động lực mà nó phát ra.
Chúng ta có thể không thể duy trì một ngọn nến bằng cách bỏ nó vào trong góc tủ, mà nó chỉ hữu ích khi chúng ta thắp sáng nó. Khi thắp sáng nó, nó sẽ tàn, nhưng điều chúng ta vẫn nhớ, đó chính là ánh lửa mà ngọn nến đó mang lại. Như vây, động lực xuất phát từ chính bản thân mỗi người. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích.
Ở 8 những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau, động lực của mỗi người cũng khác nhau. Tạo động lực lao động Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị trong tổ chức muốn xây dựng công ty, xí nghiệp mình vững mạnh thì phải dùng các biện pháp kích thích người lao động làm cho họ hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Đây là vấn đề về tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp.
Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng để thực hiện $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ công việc được giao sao cho hiệu quả, góp phần doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ doanh. Thực tế lợi ích có quan hệ rất chặt chẽ với động lực làm việc, nhưng lợi ích của $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ cá nhân và lợi ích của tập thể lại luôn mâu thuẫn. Để người lao động có thể tự nguyện $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ theo các định hướng của doanh nghiệp thì cần cho họ thấy rõ lợi ích của bản thân họ chỉ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ đạt được khi lợi ích của doanh nghiệp đạt được tức phải hướng mục tiêu của cá nhân $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ theo mục tiêu của tổ chức. Làm được điều đó chính là tạo ra động lực làm việc cho $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ người lao động, và đó chính là khả năng tiềm tàng để tăng năng suất và hiệu quả của $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ doanh nghiệp.
$ $ Tạo động lực là: “sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức $ $ $ $$ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được góp cho tổ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ $ chức, doanh nghiệp” (Nguyễn Vân Điềm$& Nguyễn$Ngọc Quân, 2006) $ $ $ Tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ khiến cho người lao động có động lực làm việc, họ sẽ dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao, đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu, gia tăng sự thỏa mãn công việc của người lao động và độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp. Tạo động lực lao động, hiểu một cách cụ thể, chính là việc tạo ra sự hấp dẫn trong công việc, của kết quả thực hiện công việc, của tiền lương, tiền thưởng, của điều kiện làm việc, của các mối quan hệ trong công việc…và khi đó người lao đông sẽ hăng hái, hưng phấn và làm việc một cách tự nguyện, tích cực và sáng tạo. Đó cũng chính là những lợi ích mà người lao động nhận được. Khi sự hấp dẫn càng lớn, 9 lợi ích càng lớn, động lực để người lao động làm việc càng cao, người lao động càng tích cực, hăng hái làm việc một cách tốt nhất để đạt được những lợi ích đó.
Tác động của việc tạo động lực làm việc cho người lao động 1. Đối với người lao động Động lực là chìa khóa cho nhân viên thành công, nó có thể thúc đẩy mạnh mẽ sự gắn kết của họ, hiệu suất làm việc và sự sáng tạo trong công việc. Thứ nhất việc tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ giúp nâng cao năng suất lao động: Khi có động lực lao động thì người lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say kết quả là năng suất lao động cá nhân được nâng cao rõ rệt. Năng suất tăng lên dẫn tới tiền lương cũng được nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Thứ hai, tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiên tại: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận được sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình. Thêm một lợi ích nữa đối với người lao động đó là khi công việc được tiến hành thuận lợi thì họ sẽ thấy được công sức mình bỏ ra là có ích và đạt được hiệu quả cao. Điều đó tạo cho họ cảm thấy có ý nghĩa trong công việc, cảm thấy mình quan trọng và có ích và từ đó không ngừng hoàn thiện bản thân mình hơn nữa. Cuối cùng, động lực lao động còn giúp cho người lao động trong các doanh nghiệp có thể tự nâng cao kỹ năng, tay nghề và tự hoàn thiện mình.
Khi có được động lực trong lao động người lao động có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Tuy nhiên, tạo động lực có thể gây áp lực đối với người lao động, khiến họ cảm thấy căng thẳng mệt mỏi, và ở một phần nào đó có thể dẫn tới giảm hiệu suất công việc, lúc này vô hình chung lại gây tác động không tốt đến người lao động. Đối với người sử dụng lao động Động lực không thể nghi ngờ là sức mạnh khủng khiếp dẫn đến thành công cả trong kinh doanh và cuộc sống. Đặc biệt là đối với người sử dụng lao động, doanh nghiệp cần biết cách truyền động lực cho nhân viên.
Việc người lao động nỗ lực làm việc và cống hiến cho công ty sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, những người sử dụng lao động. Thứ nhất, việc tạo động lực cho người lao động sẽ có tác động đến năng suất lao động của cán bộ công nhân viên. Khi nhân viên có động lực làm việc, họ hăng hái cống hiến và làm việc, dẫn đến hiệu quả công việc nâng cao, giá trị tạo ra cho doanh nghiệp sẽ cao hơn. Thứ hai, tạo động lực cho người lao động sẽ giúp người lao động gắn bó với công ty, giảm tỷ lệ nghỉ việc, từ đó ổn định tổ chức, giảm thiểu chi phí tuyển dụng.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần cân nhắc các chi phí và biện pháp tạo động lực cho người lao động công bằng và hợp lý, tránh gây ra sự bất mãn của một số cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ. Như vậy, có thể thấy việc tạo động lực cho người lao động là cần thiết để duy trì sự gắn bó của tổ chức, góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, thêm vào đó giúp kích thích sự tăng trưởng bền vững về cả kinh tế và văn hóa của tổ chức. Đối với xã hội Có thể nói rằng, nhân tố con người là yếu tố then chốt quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức và xã hội. Khi các cá nhân trong xã hội có động lực sống và làm vệc sẽ có tác động tích cực đến đời sống xã hội, giúp kích thích sự phát triển của nền kinh tế.
Xã hội cũng giống như doanh nghiệp, càng tạo ra động lực cho người dân (công ăn việc làm, khuyến khích sang tạo lao động nghiên cứu…) sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững. Việc tạo động lực lao động sẽ giúp giảm thiểu những tệ nạn, những bất ổn trong xã hội. Ví dụ: việc thất nghiệp sẽ kéo theo những vấn đề về an ninh trật tự xã hội, các tệ nạn gia tăng, làm giảm sản xuất của nền kinh tế, có thể khiến nền kinh tế lâm vào khủng hoảng.