Đồ án Kỹ thuật điện cao áp: Chống sét trạm biến áp 220/110kV - SV. Trần Duy Hùng

Đồ án kỹ thuật điện cao áp trình bày chi tiết về tính toán, thiết kế bảo vệ chống sét cho trạm biến áp 220/110kV và hệ thống nối đất an toàn.

Trường đại học

Trường Đại Học Điện Lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ Án Môn Học

2025

61
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hiện Tượng Dông Sét và Ảnh Hưởng đến Hệ Thống Điện

Dông sét là hiện tượng tự nhiên nguy hiểm gây ra những tổn hại đáng kể cho hệ thống điện. Ở Việt Nam, đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, tình hình dông sét diễn ra thường xuyên, đặc biệt vào mùa hè. Các trạm biến áp 220/110kV nằm trong vùng có mật độ dông sét cao phải chịu áp lực lớn từ các tia sét đánh trực tiếp. Tác động của dông sét không chỉ làm hư hỏng thiết bị điện mà còn gây gián đoạn cung cấp điện, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất kinh tế. Việc thiết kế hệ thống bảo vệ chống sét hiệu quả là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi trạm biến áp để đảm bảo an toàn và liên tục trong hoạt động.

1.1. Khái Niệm Chung về Dông Sét

Dông sét là sự phóng điện tự nhiên giữa mây và mặt đất hoặc giữa các mây với nhau. Sét đánh có dòng điện cực lớn (lên đến hàng chục kA), nhiệt độ cao (khoảng 30.000K) và gây ra những tác động cơ học, nhiệt và từ rất mạnh. Tia sét có thể đánh trực tiếp vào các thiết bị hoặc gây ra điện áp cảm ứng trên đường dây, gây tổn hại toàn diện cho hệ thống điện.

1.2. Tình Hình Dông Sét ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng có mật độ dông sét cao trên thế giới với khoảng 10-15 ngày dông/năm ở nhiều khu vực. Các trạm biến áp ở các tỉnh phía Nam và Trung Bộ chịu tác động mạnh mẽ từ dông sét. Thống kê cho thấy sét đánh là nguyên nhân gây nên gần 30% các sự cố gián đoạn điện trong năm, yêu cầu cải thiện hệ thống bảo vệ chống sét cho các trạm biến áp.

II. Tính Toán Bảo Vệ Sét Đánh Trực Tiếp cho Trạm Biến Áp

Bảo vệ sét đánh trực tiếp là quá trình thiết kế cột thu sét và xác định phạm vi bảo vệ để chống lại tia sét đánh vào thiết bị điện. Đối với trạm biến áp 220/110kV, việc tính toán phải dựa trên các yêu cầu kỹ thuật cụ thể bao gồm điện áp định mức, mật độ dông sét khu vực, và cấu trúc của trạm. Phương pháp bảo vệ sét bao gồm lắp đặt cột thu sét ở các vị trí chiến lược với chiều cao tối ưuđiện trở nối đất thấp. Cách tiếp cận tính toán khoa học giúp tối đa hóa hiệu quả bảo vệ đồng thời đảm bảo tính kinh tế trong thiết kế hệ thống bảo vệ chống sét.

2.1. Yêu Cầu Kỹ Thuật Thiết Kế Bảo Vệ Sét

Thiết kế bảo vệ sét phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chiều cao cột thu sét, phạm vi bảo vệ, và điện trở nối đất. Dây chống sét loại C-95 được chọn phải chịu được dòng sét lớn mà không bị nóng chảy. Điện trở suất của đất (ρđ = 109 Ωm) ảnh hưởng trực tiếp đến điện trở nối đất của hệ thống. Các khoảng vượt đường dây 220kV (300m) và 110kV (350m) cần được bảo vệ bằng cột thu sétchiều cao phù hợp.

2.2. Phạm Vi Bảo Vệ và Lý Thuyết Tính Toán

Phạm vi bảo vệ của cột thu sét được tính dựa trên hình học và đặc tính của tia sét. Với chiều cao cột h, bán kính bảo vệ R được xác định theo công thức: R = h√(h/a), trong đó a là độ cao tham chiếu. Cột thu sét ở hai phía (110kV với Rc = 8Ω và 220kV với Rc = 6Ω) phải được tính toán riêng để đảm bảo phạm vi bảo vệ trùm phủ toàn bộ trạm biến áp 220/110kV.

III. Hệ Thống Nối Đất cho Trạm Biến Áp 220 110kV

Hệ thống nối đất là thành phần không thể thiếu trong bảo vệ chống sét cho trạm biến áp. Nó có hai chức năng chính: nối đất an toàn để bảo vệ con người và thiết bị trong điều kiện bình thường, và nối đất chống sét để tiêu tán dòng sét vào đất một cách nhanh chóng. Điện trở nối đất phải được tính toán để đảm bảo điện áp tiếp xúc và điện áp bước không vượt quá giá trị cho phép. Với điện trở suất đất ρđ = 109 Ωm, cấu trúc nối đất được thiết kế gồm các dây nối sét nằm ngang và điốt nối sét theo các quy định kỹ thuật. Tính toán nối đất bao gồm xác định số lượng, chiều dài và bố trí của các điốt nối sét để đạt điện trở nối đất chống sét từ 2-5 Ω tùy theo tiêu chuẩn.

3.1. Nguyên Lý Hoạt Động Nối Đất

Nối đất chống sét hoạt động bằng cách cung cấp đường dẫn có điện trở thấp để dòng sét (lên đến hàng chục kA) chảy vào đất mà không gây hư hỏng thiết bị. Điốt nối sét được bố trí quanh chu vi trạm biến áp tạo thành một mạng nối đất liên kết. Điện trở nối đất phụ thuộc vào độ dẫn điện của đất, với ρđ = 109 Ωm được cho là điều kiện đất kém dẫn, yêu cầu các điốt sâu và dài hơn.

3.2. Tính Toán và Thiết Kế Nối Đất An Toàn

Nối đất an toàn được tính dựa trên điện áp tiếp xúc cho phép (thường là 50V với điều kiện khô) và điện áp bước (100V). Với Rc 110kV = 8ΩRc 220kV = 6Ω, hệ thống nối đất chung được thiết kế sao cho tất cả cột thu sét kết nối đến mạng này. Công thức tính điện trở nối đất: Rđ = ρđ/(4πL) với L là chiều dài tổng cộng của các điốt nối sét, giúp đảm bảo an toàn cho cả người lao động và thiết bị.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Bản Vẽ Thiết Kế

Đồ án bảo vệ chống sét trạm biến áp 220/110kV bao gồm ba bản vẽ A3 chi tiết minh họa các kết quả tính toán. Bản vẽ thứ nhất thể hiện phạm vi bảo vệ của cột thu sét và các phương án bảo vệ sét đánh trực tiếp, bao gồm vị trí các cột thu sét trên sơ đồ mặt bằng trạm. Bản vẽ thứ hai cho thấy chi tiết phạm vi bảo vệ 3D và điều chỉnh chiều cao cột theo các yêu cầu kỹ thuật. Bản vẽ thứ ba trình bày toàn bộ hệ thống nối đất với các điốt nối sét, mạng nối đất và các kết nối đến các thiết bị chính. Các bản vẽ này cung cấp thông tin cần thiết để thi công lắp đặt bảo vệ chống sét theo tiêu chuẩn kỹ thuật đề ra, đảm bảo an toàn dài hạn cho trạm biến áp.

4.1. Bản Vẽ Phạm Vi Bảo Vệ Cột Thu Sét

Bản vẽ phạm vi bảo vệ hiển thị chiều cao tối ưu của các cột thu sét và hình dạng phạm vi bảo vệ (thường là hình nón). Dựa trên tính toán bán kính bảo vệ, bản vẽ xác định vị trí cột thu sét để bao trùm toàn bộ các thiết bị quan trọng như máy biến áp, các cầu dao điện áp cao. Các phương án bảo vệ được so sánh về hiệu quả và chi phí để lựa chọn giải pháp tối ưu nhất cho trạm biến áp 220/110kV.

4.2. Bản Vẽ Hệ Thống Nối Đất và Chi Tiết Thi Công

Bản vẽ nối đất cung cấp chi tiết về bố trí các điốt nối sét quanh trạm, độ sâu lắp đặt, và khoảng cách giữa chúng. Dây nối sét loại C-95 được kết nối từ các cột thu sét xuống các điốt nối sét tạo thành mạng liên kết. Bản vẽ cũng chỉ rõ các tiếp điểm nối đất trên thiết bị, kích thước dẫn xuống, và các yêu cầu thi công để đạt điện trở nối đất chống sét theo tiêu chuẩn qui định.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 211Equation Chapter 1 Section 1:HIỆN TƯỢNG DÔNG SÉT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN HỆ THỐNG ĐIỆN VIỆT NAM 1.1 Hiện tượng dông sét 1.1 Khái niệm chung Dông sét là một hiện tượng của thiên nhiên, đó là sự hóng tia lửa điện khi khoảng cách giữa các điện cực khá lớn (khoảng 5km). Hiện tượng phóng điện của dông sét gồm hai loại chính đó là phóng điện giữa các đám mây tích điện và phóng điện giữa các đám mây tích điện với mặt đất. Trong phạm vi đồ án này ta ch nghiên cứu phóng điện giữa các đám mây tích điện với mặt đất (phóng điện mây - đất). Với hiện tượng phóng điện này gây nhiều trở ngại cho đời sống con người.

Các đám mây được tích điện với mật độ điện tích lớn, có thể tạo ra cường độ điện trường lớn sẽ hình thành dòng phát triển về phía mặt đất. Giai đoạn này là giai đoạn phóng điện tiên đạo. Tốc độ di chuyển trung bình của tia tiên đạo của lần phóng điện đầu tiên khoảng 1,5.10 7 cm/s, các lần phóng điện sau thì tốc độ tăng lên khoảng 2. Tia tiên đạo là môi trường Plasma có điện tích rất lớn.

Đầu tia được nối với một trong các trung tâm điện tích của đám mây nên một phần điện tích của trung tâm này đi vào trong tia tiên đạo. Phần điện tích này được phân bố khá đều dọc theo chiều dài tia xuống mặt đất. Dưới tác dụng của điện trường của tia tiên đạo, sẽ có sự tập trung điện tích khác dấu trên mặt đất mà địa điểm tập kết tùy thuộc vào tình hình dẫn điện của đất. Nếu vùng đất có điện dẫn đồng nhất thì điểm này nằm ngay ở phía dưới đầu tia tiên đạo.

Còn nếu vùng đất có điện dẫn không đồng nhất (có nhiều nơi có điện dẫn khác nhau) thì điện tích trong đất sẽ tập trung về nơi có điện dẫn cao. Quá trình phóng điện sẽ phát triển dọc theo đường sức nối liền giữa đầu tia tiên đạo với nơi tập trung điện tích trên mặt đất và như vậy địa điểm sét đánh trên mặt đất đã được định sẵn. Do vậy để định hướng cho các phóng điện sét thì ta phải tạo ra nơi có mật độ tập trung điện diện tích lớn. Nên việc bảo vệ chống sét đánh trực tiếp 1 cho các công trình được dựa trên tính chọn lọc này của phóng điện sét.

Nếu tốc độ phát triển của phóng điện ngược là  và mật độ điện trường của điện tích trong tia tiên đạo là  thì trong một đơn vị thời gian thì điện tích đi và trong đất sẽ là: is = .1) Công thức này tính toán cho trường hợp sét đánh vào nơi có nối đất tốt (có trị số điện trở nhỏ không đáng kể). Tham số chủ yếu của phóng điện sét là dòng điện sét, dòng điện này có biên độ và độ dốc phân bố theo hàng biến thiên trong phạm vi rộng (t vài k đến vài trăm k ) dạng sóng của dòng điện sét là dạng sóng xung kích, chỗ tăng vọt của sét ứng với giai đoạn phóng điện ngược (hình M-1) - Khi sét đánh thẳng vào thiết bị phân phối trong trạm sẽ gây quá điện áp khí quyển và gây hậu quả nghiêm trọng như đã trình bày ở trên. 1: sự biến thiên của dòng điện theo thời gian Việt Nam là một trong những nước khí hậu nhiệt đới, có cường độ dông sét khá mạnh. Theo tài liệu thống kê cho thấy trên mỗi miền đất nước Việt nam có một đặc điểm dông sét khác nhau : + Ở miền Bắc, số ngày dông dao động t 70  110 ngày trong một năm và số lần dông t 150  300 lần như vậy trung bình một ngày có thể xảy ra t 2  3 cơn dông.

+ Vùng dông nhiều nhất trên miền Bắc là Móng Cái. Tại đây hàng năm có từ 250  300 lần dông tập trung trong khoảng 100  110 ngày. Tháng nhiều dông nhất là các tháng 7, tháng 8. 2 + Một số vùng có địa hình thuận lợi thường là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng, số trường hợp dông cũng lên tới 200 lần, số ngày dông lên đến 100 ngày trong một năm.

Các vùng còn lại có t 150  200 cơn dông mỗi năm, tập trung trong khoảng 90  100 ngày. + Nơi ít dông nhất trên miền Bắc là vùng Quảng Bình hàng năm chỉ có dưới 80 ngày dông. Xét dạng diễn biến của dông trong năm, ta có thể nhận thấy mùa dông không hoàn toàn đồng nhất giữa các vùng. Nhìn chung ở Bắc Bộ mùa dông tập chung trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 9.

Trên vùng Duyên Hải Trung Bộ, ở phần phía Bắc (đến Quảng Ngãi) là khu vực tương đối nhiều dông trong tháng 4, từ tháng 5 đến tháng 8 số ngày dông khoảng 10 ngày/ tháng, tháng nhiều dông nhất (tháng 5) quan sát được 12  15 ngày (Đà Nẵng 14 ngày/ tháng, Bồng Sơn 16 ngày/tháng .), những tháng đầu mùa (tháng 4) và tháng cuối mùa (tháng 10) dông còn ít, mỗi tháng ch gặp t 2  5 ngày dông. Phía Nam duyên hải Trung Bộ (từ Bình Định trở vào) là khu vực ít dông nhất, thường ch có trong tháng 5 số ngày dông khoảng 10/tháng như Tuy Hoà 10ngày/tháng, Nha Trang 8 ngày/tháng, Phan Thiết 13 ngày/tháng. Ở miền Nam khu vực nhiều dông nhất ở đồng bằng Nam Bộ t 120  140 ngày/năm, như ở thành phố Hồ Chí Minh 138 ngày/năm, Hà Tiên 129 ngày/ năm. Mùa dông ở miền Nam dài hơn mùa dông ở miền Bắc đó là t tháng 4 đến tháng 11 tr tháng đầu mùa (tháng 4) và tháng cuối mùa (tháng 11) có số ngày dông đều quan sát được trung bình có t 15  20 ngày/tháng, tháng 5 là tháng nhiều dông nhất trung bình gặp trên 20 ngày dông/tháng như ở thành phố Hồ Chí Minh 22 ngày, Hà Tiên 23 ngày.

Ở khu vực Tây Nguyên mùa dông ngắn hơn và số lần dông cũng ít hơn, thángnhiều dông nhất là tháng 5 cũng ch quan sát được khoảng 15 ngày dông ở Bắc Tây Nguyên, 10  12 ở Nam Tây Nguyên, on Tum 14 ngày, Đà Lạt 10 ngày, PLâycu 17 ngày. Ta thấy Việt Nam là nước phải chịu nhiều ảnh hưởng của dông sét, đây là điều bất lợi cho H.Đ Việt nam, đòi hỏi ngành điện phải đầu tư nhiều vào các thiết bị chống sét. Đặc biệt hơn nữa nó đòi hỏi các nhà thiết kế phải chú trọng khi tính toán thiết kế các công trình điện sao cho HTĐ vận hành kinh tế, hiệu quả, đảm bảo cung cấp điện liên tục và tin cậy.2 Tình hình dông sét ở Việt Nam Như đã trình bày ở phần trước, biên độ dòng sét có thể đạt tới hàng trăm kA, đây là nguồn sinh nhiệt vô cùng lớn khi dòng điện sét đi qua vật nào đó. Thực tế đã có dây tiếp địa do phần nối đất không tốt, khi bị dòng điện sét tác dụng đã bị nóng chảy và đứt, thậm chí có những cách điện bằng sứ khi bị dòng điện sét tác dụng đã bị vỡ và chảy ra như nhũ thạch, phóng điện sét còn kèm theo việc di chuyển trong không gian lượng điện tích lớn, do đó tạo ra điện từ trường rất mạnh, đây là nguồn gây nhiễu loạn vô tuyến và các thiết bị điện tử, ảnh hưởng của nó rất rộng, ở cả những nơi cách xa hàng trăm km.

Khi sét đánh thẳng vào đường dây hoặc xuống mặt đất gần đường dây sẽ sinh ra sóng điện từ truyền theo dọc đường dây, gây nên quá điện áp tác dụng lên cách điện của đường dây. Khi cách điện của đường dây bị phá hỏng sẽ gây nên ngắn mạch pha-đất hoặc ngắn mạch pha–pha buộc các thiết bị bảo vệ đầu đường dây phải làm việc. Với những đường dây truyền tải công suất lớn, khi máy cắt nhảy có thể gây mất ổn định cho hệ thống,nếu hệ thống tự động ở các nhà máy điện làm việc không nhanh có thể dẫn đến rã lưới. Sóng sét còn có thể truyền từ đường dây vào trạm biến áp hoặc sét đánh thẳng vào trạm biến áp đều gây nên phóng điện trên cách điện của trạm biến áp, điều này rất nguy hiểm vì nó tương đương với việc ngắn mạch trên thanh góp và dẫn đến sự cố trầm trọng.

Mặt khác, khi có phóng điện sét vào trạm biến áp, nếu chống sét van ở đầu cực máy biến áp làm việc không hiệu quả thì cách điện của máy biến áp bị chọc thủng gây thiệt hại vô cùng lớn. Qua đó ta thấy rằng sự cố do sét gây ra rất lớn, nó chiếm chủ yếu trong sự cố lưới điện, vì vậy giông sét là mối nguy hiểm lớn nhất đe doạ hoạt động của lưới điện.2 Ảnh hưởng dông sét đến hệ thống điện Việt Nam Như đã trình bày ở phần trước, biên độ dòng sét có thể đạt tới hàng trăm kA, đây là nguồn sinh nhiệt vô cùng lớn khi dòng điện sét đi qua vật nào đó. Thực tế đã có dây tiếp địa do phần nối đất không tốt, khi bị dòng điện sét tác dụng đã bị nóng chảy và đứt, thậm chí có những cách điện bằng sứ khi bị dòng điện sét tác dụng đã bị vỡ và chảy ra như nhũ thạch, phóng điện sét còn kèm theo việc di chuyển 4 trong không gian lượng điện tích lớn, do đó tạo ra điện từ trường rất mạnh, đây là nguồn gây nhiễu loạn vô tuyến và các thiết bị điện tử, ảnh hưởng của nó rất rộng, ở cả những nơi cách xa hàng trăm km. Khi sét đánh thẳng vào đường dây hoặc xuống mặt đất gần đường dây sẽ sinh ra sóng điện từ truyền theo dọc đường dây, gây nên quá điện áp tác dụng lên cách điện của đường dây.

Khi cách điện của đường dây bị phá hỏng sẽ gây nên ngắn mạch pha-đất hoặc ngắn mạch pha–pha buộc các thiết bị bảo vệ đầu đường dây phải làm việc. Với những đường dây truyền tải công suất lớn, khi máy cắt nhảy có thể gây mất ổn định cho hệ thống,nếu hệ thống tự động ở các nhà máy điện làm việc không nhanh có thể dẫn đến rã lưới. Sóng sét còn có thể truyền từ đường dây vào trạm biến áp hoặc sét đánh thẳng vào trạm biến áp đều gây nên phóng điện trên cách điện của trạm biến áp, điều này rất nguy hiểm vì nó tương đương với việc ngắn mạch trên thanh góp và dẫn đến sự cố trầm trọng. Mặt khác, khi có phóng điện sét vào trạm biến áp, nếu chống sét van ở đầu cực máy biến áp làm việc không hiệu quả thì cách điện của máy biến áp bị chọc thủng gây thiệt hại vô cùng lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ